Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

CÒN MÃI TRONG TÔI


            Huỳnh Phước

Những hình ảnh thân yêu, những kỉ niệm khó quên về thầy cô, bè bạn dưới mái trường Trung học đệ nhất, đệ nhị cấp Trần Quốc Tuấn (Quảng Ngãi), nơi mà tôi đã từng theo học từ năm 1965 đến 1972, đã để lại trong tôi những dấu ấn khó phai mờ.
Cổng trường xôn xao theo tiếng trống, hàng cây khuynh diệp xanh tươi tắm mình trong nắng ban mai, quí thầy cô trong trang phục chỉnh tề lên bục giảng, các bạn cùng lớp, chung trường hồn nhiên vô tư và tinh nghịch trong giờ ra chơi nhưng rất nghiêm túc trong giờ học ... đã đi vào vùng sâu thẳm kí ức của tôi.
Lúc ngồi một mình ôn lại hoặc có ai khơi dậy thì các hình ảnh ấy lại miên man hiện về. Với tôi, mỗi con người, mỗi sự việc dù hay dù dở của tuổi học trò đều là những bông hoa kỉ niệm đẹp.  Trong vườn hoa kỉ niệm thắm tươi sắc màu và ngào ngạt hương thơm đó có một đóa hoa luôn nở trong tôi một màu son đỏ. Tôi muốn nói đến thầy Hiệu trưởng Nguyễn Khoa Phước, cánh chim đầu đàn của trường Trần Quốc Tuấn năm xưa.
            Thời chúng tôi, được trúng tuyển vào lớp đệ thất (tức lớp 6 bây giờ), đa phần đều trên 12 tuổi (do chiến tranh thất học, trễ học). Tuy đã 12, 13 tuổi, nhưng do trình độ chung về dân trí xã hội lúc bấy giờ, nên đa số chúng tôi không có được cái nhanh nhạy như thế hệ học sinh đầu cấp THCS bây giờ. Chính vì vậy, mà khi biết mình trúng tuyển rồi thì cứ yên tâm  xách cặp vào lớp khi ngày khai giảng đến, chớ có biết đâu rằng: viêc nhập học của các “tân khoa đệ thất” không đơn giản chút nào. Theo nguyên tắc hành chính, tôi phải làm thủ tục hồ sơ nhập học (bản sao giấy khai sinh, bản sao bằng tốt nghiệp tiểu học tạm thời, đơn xin nhập học, hai ảnh 4x6…). Muốn có bản sao hợp lệ, tôi phải đến Ty Hành Chánh trong Tòa Hành Chánh tỉnh để được thị thực. Để có đầy đủ các giấy tờ hợp lệ nêu trên, có khi phải mất cả tuần lễ mới xong. Thế mà chỉ còn hai ngày nữa là đến ngày khai giảng, tôi mới lon ton đến Văn phòng nhà trường.
            Tôi lê từng bước chân nặng trịch trên hành lang rồi rón rén vào Văn phòng, gặp thầy Giám học để xin giấy vào lớp. Ôi thôi, cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in cái tâm trạng hãi hùng của cậu học trò nhà quê lên tỉnh bị thầy L nện cho một trận đến “hồn xiêu phách lạc” … “Hết hạn nộp hồ sơ, hết hạn nộp hồ sơ… đi ra ngoài, đi ra ngoài … để tôi còn làm việc…”.
Thầy vừa quát tháo vừa vung tay xua đuổi. Là học sinh nghèo, nhút nhát sống ở vùng nông thôn, như “con nai vàng ngơ ngác” chẳng biết cớ sự ất giáp thế nào, tôi chỉ còn biết mếu máo, nài nỉ...trong vô vọng.

            Đúng lúc ấy, có một người thầy tầm thước, da trắng, tóc ngắn, trông thật nho nhã và nhân từ đi ngang qua (sau này tôi mới biết, đó là thầy Hiệu trưởng Nguyễn Khoa Phước). Thầy dừng lại, hỏi tôi với giọng ôn tồn: “ Vì sao mà em khóc”? Tôi trình bày đầu đuôi sự việc trong nước mắt vắn dài tức tửi. Thầy nhìn tôi với ánh mắt nhân từ, đầy cảm thông và chăm chú lắng nghe. Xong. Thầy đưa bàn tay ấm áp cầm lấy tay tôi, dắt tôi lại gần thầy Giám học, đề nghị thầy L linh hoạt giải quyết cho trường hợp này. Với lý lẽ thật đơn sơ, thầy giải thích: “ Đa số học sinh đến đây là con em nông dân chân lấm tay bùn, vất vả lắm mới cho con ăn học, vì không nắm được đầy đủ qui định của nhà trường, nên chậm trễ. Xin thầy vui lòng gia hạn thời gian nộp hồ sơ cho học sinh nầy ba ngày nữa…”. Trước lời thái độ điềm đạm và lời lẽ  thấu tình đạt lí của người lãnh đạo, thầy L đổi giận làm vui: “ Thôi, em về cố gắng hoàn tất hồ sơ và nộp đúng thời hạn nghe”. Như mở cờ trong bụng, tôi vội vã vòng tay cúi đầu cảm ơn hai thầy, rồi “ba chân bốn cẳng” chạy thẳng về nhà.
            Nếu không có cái tâm trong sáng  của một Nhà giáo, tôi chắc không bao giờ thầy Hiệu trưởng đã nói những lời trĩu nặng tình yêu thương và đầy cảm thông như thế. Cái nghĩa cử cao đẹp, đầy ân tình của thầy đã cứu tôi, một cậu học trò nghèo, khỏi thất học và góp phần không nhỏ trong việc hình thành nhân cách của tôi.
            Khi được nhập học, lớp tôi được thầy Hiệu trưởng  dạy bộ môn giáo dục công dân. Những giờ dạy của thầy, đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ như in. Mỗi khi vào lớp dạy chúng tôi, thầy không thuyết giảng triền miên, cũng không tiến hành theo năm bước như giáo học pháp bây giờ mà thầy dạy theo cách của thầy. Trước tiên thầy nêu chủ đề bài học, tiếp đến thầy kể một câu chuyện, sau đó thầy yêu cầu chúng tôi phát biểu suy nghĩ. Thầy khuyến khích chúng tôi, nghĩ sao nói vậy. Thế là cuộc hội thoại đầy tranh luận của những ý kiến khác nhau của các cô cậu học trò theo một định hướng rất tế nhị của thầy lại nổ ra. Để rồi cuối cùng, thầy khái quát chủ đề thành một bài học ngắn gọn nhưng rất xúc tích nên học sinh rất dễ nhớ.  
            Chẳng hạn, khi dạy về tình yêu quê hương, đất nước, thầy kể chúng tôi nghe câu chuyện Người đi du lịch trở về: Có một người du lịch trên mọi miền đất nước, ông ta đã từng thưởng ngoạn các danh lam thắng cảnh, thưởng thức món ngon vật lạ ở những nơi mà ông ta đã đến. Nhưng khi trở về nhà, hàng xóm láng giềng đến hỏi : “Theo ông, nơi nào là nơi đẹp nhất?”  ông trả lời với mọi người rằng: “Cảnh đẹp thì tôi được trông thấy rất nhiều… nhưng không đâu làm cho tôi cảm động, vui thú bằng lúc tôi trở về nơi “quê cha đất tổ”, từ cái hàng rào, bụi tre ở góc vườn cho đến con đường khúc khuỷu trong làng… cái gì cũng đẹp, cũng gợi ra cho tôi những  tình cảm yêu thương chứa chan không sao kể xiết được… Rồi sau đó thầy đặt câu hỏi để chúng tôi phát biểu suy nghĩ về tình cảm của người đii du lịch đó. Và cuối cùng thầy khái quát: “Thế mới biết càng đi xa thì lại càng thấy quê hương của mình  đẹp hơn cả ...”
Khi dạy bài nói về chủ đề Lương tâm, cũng từ một câu chuyện kể về một chàng thanh niên, do nông nổi đã làm một việc mà khi hối cãi không thể nào chuộc được lầm lỗi, và lỗi lầm ấy đã dày vò tâm can anh chàng thanh niên này đến cả cuộc đời. Bằng chất giọng thanh nhẹ, sâu lắng và có sức tâm truyền đã đi vào tâm thức chúng tôi. Cho nên sau nhiều năm xa cách, mỗi người một nơi, giờ gặp lại, thế hệ học sinh thời 65 -72 Trần Quốc Tuấn , dù làm bất cứ việc gì, cũng vẫn luôn giữ được lương tâm, một phẩm chất cao quí để thành Người.
Đặc biệt khi dạy về chủ đề Tinh thần trách nhiệm công dân, Thày đã kể câu chuyện về nhân vật Rowan - một con người lịch sử, một con người ngoại hạng. Bằng phương pháp tâm truyền thầy đã khắc  sâu vào ký ức của tôi một con người có tinh thần trách nhiệm, một tinh thần tháo vát, dám đứng ra lãnh trách nhiệm được giao phó… Có thể nói đây là hành trang theo suốt cả cuộc đời chúng tôi.
Trên đường đời đầy gian nan và thử thách, mỗi khi gặp những tình huống bất ngờ về tình yêu và cuộc sống, về trách nhiệm và lương tâm, về tình cảnh của của một tha nhân nào đó thì trong tôi lại hiện lên hình ảnh của thầy Phước kính yêu với ánh nhìn hiền hậu, với giọng nói nhân từ và những bài học Công dân mà thầy đã dạy.

                              Đà Nẵng, mùa hè năm 2012
                                          

Thứ Sáu, 9 tháng 11, 2012

MÂY TRÔI


                               Huỳnh Văn Cát

                              Trơì xanh một áng mây trôi
                           Hợp tan khoảnh khắc luân hồi ngàn năm.
                             Trần gian cõi tạm ăn nằm
                           Thiên đàng địa ngục mù tăm chốn nào?

                                                          Giao Thủy 25/9/2012 ÂL

Thứ Tư, 7 tháng 11, 2012

TẢN MẠN “ẾCH NGỒI ĐÁY GIẾNG”


Mộc Nhân – Lê Đức Thịnh 

Chúng ta đã đều biết đến câu thành ngữ “Ếch ngồi đáy giếng” ám chỉ những người hiểu biết nông cạn nhưng lại luôn muốn chứng tỏ mình tài giỏi  hơn người nên khoác lác, ba hoa và cuối cùng nhận lãnh một hậu quả. 
Thành ngữ trên có nguồn gốc từ một ngụ ngôn dân gian: Có một con ếch, do một sự ngẫu nhiên nào đó, ngay từ khi sinh ra đã ở trong một cái giếng nọ. Sống cùng với ếch ở trong giếng chỉ có vài con nhái, cua, ốc nhỏ. Từ dưới đáy giếng nhìn lên, ếch ta chỉ thấy một khoảng trời bé bằng cái vung. Nó nghĩ: Tất cả vũ trụ chỉ có vậy, vì thế ếch tự coi mình là chúa tể. Hàng này, nó cất tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng khiến các con vật bé nhỏ kia hoảng sợ. Nó càng lấy làm oai. Nhưng năm ấy có một trận mưa thật to. Nước trong giếng dềnh lên, tràn vào bờ, đưa ếch ta ra ngoài. Quen thói cũ, ếch nhâng nháo nhìn lên trời, nó bỗng thấy cả một bầu trời rộng lớn hơn nhiều cái khoảng trời nó vẫn thấy. Ếch ta không tin và thấy bực bội vì điều đó. Để ra oai, nó cất tiếng kêu ồm ộp. Vị chúa tể hy vọng là sau những tiếng kêu của mình, mọi thứ phải trở lại như cũ. Nhưng bầu trời vẫn là bầu trời. Còn con ếch vì mải nhìn lên trời đã không chú ý đến xung quanh nên đã bị một con trâu đi qua dẫm bẹp.
Câu chuyện đã đặt ra mấy vấn đề:
- Về môi trường sống tự nhiên: ếch sống trong môi trường giếng, có thể do ngẫu nhiên mà cũng có thể là do sở thích của họ hàng nhà ếch nữa (Giếng đâu thì ếch đó). Môi trường này có ảnh hưởng đến tính cách, nhận thức của đối tượng, như dân gian nói “ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”.
- Về môi trường xã hội: sống cùng với ếch ở trong môi trường tự nhiên là cái giếng có một “cộng đồng xã hội” gồm: nhái, cua, ốc nhỏ … nhưng ếch nhâng nháo, xấc xược tự coi mình là chúa tể và lấy đó làm oai. Như vậy ếch đã làm vẩn đục môi trường xã hội. Quan hệ ứng xử công bằng, văn minh, hiểu biết giữa “chúa tể” ếch với cư dân đã bị phá vỡ. Tiếng kêu ồm ộp làm vang động cả giếng khiến các con vật bé nhỏ hoảng sợ là kiểu ngôn ngữ “miệng nhà quan có gan có thép”.
- Về nhận thức thế giới: vì ếch sống trong môi trường như vậy nên nó nhìn thế giới bên ngoài qua cái miệng giếng. Vì vậy ếch hiểu biết ít do điều kiện tiếp xúc hẹp. Nhưng bi kịch của ếch là đã không nhận ra điều đó, ếch cho mình tài giỏi hơn người, thật đúng là “thùng rỗng kêu to”.
- Về tính cách: ếch thể hiện rõ tính chủ quan trong suy nghĩ, lời nói và hành động. Với cộng đồng ếch huênh hoang, hợm hĩnh “coi trời bằng vung”.
Bốn yếu tố này có mối quan hệ điều kiện – kết quả hoặc nguyên nhân – hậu  quả với nhau. Cái này là tiền đề cho cái kia.  
Một triết gia nào đó đã nói: sự lặp lại lần thứ nhất là một bi kịch, lặp lại lần thứ hai là một hài kịch. 
Cuộc đời của ếch phải chẳng đi từ bi kịch đến hài kịch. Cái kết cục của ếch chẳng ai xót thương mà nó lại mang tính hài hước để giúp chúng ta đi đến một bài học ngụ ngôn: số phận của những người thiếu hiểu biết do nhận thức kém mà lại huênh hoang, hợm hĩnh thì sẽ phải trả bằng những thất bại chua xót khi tiếp xúc với thực tiễn phong phú và sinh động,  mà khi hiểu ra thì sự đã rồi.
Chung quanh chúng ta có rất nhiều người mắc chứng bệnh “ếch ngồi đáy giếng” ở một mức độ nào đó. Nguyên nhân không chỉ do môi trường tự nhiên mà còn do môi trường xã hội, môi trường giáo dục, với người lớn thì do cả môi trường công tác bao gồm cả địa vị, chức vụ, quyền hạn, các mối quan hệ … Tôi được biết trong co quan nọ có một cô là vợ xếp. Vì là vợ xếp nên mọi người cũng có phần kiêng nể, lâu ngày cô ta sinh ra thói hợm mình cho rằng mình giỏi hơn người. Cái gì mình nói cũng là đúng, ai góp ý cũng chẳng nghe, thậm chí là lí sự cùn “cãi chày cãi cối”. Đó cũng là một kiểu “ếch ngồi đáy giếng” khôi hài khá phổ biến trong cơ quan công sở hiện nay.
Tôi nghĩ vấn đề ếch ngồi đáy giếng này chỉ có thể thay đổi bằng nhận thức. Điều quan trọng là chúng ta cần biết chúng ta dốt và cố gắng học hỏi. Phải có tính khiêm nhường, điều gì biết thì nói biết còn điều gì không biết thì bảo không biết, đó cũng là một cách để thoát khỏi tình trạng “ếch ngồi đáy giếng”.
Hegel – triết gia Đức nói: “Cái gì hợp lý thì tồn tại, cái gì tồn tại thì hợp lý”. Ếch bị một con trâu đi qua dẫm bẹp là một kết thúc hợp lí bởi kiểu tư duy của ếch không thể tồn tại theo logic của tư duy.
Người ta chia ra “Năm mức độ dốt” (Five orders of ignorance) như sau:
- Dốt độ 0: hay là không dốt - là có kiến thức về một lĩnh vực nào đó và có thể chứng minh được kiến thức của mình.
- Dốt độ 1: là loại thiếu kiến thức nhưng phải biết là mình thiếu kiến thức. Thiếu kiến thức nhưng có nhận thức, vậy cũng chưa đến nỗi nào. Thiếu kiến thức thì khiêm tốn, cố gắng học hỏi để mở rộng hiểu biết.
- Dốt độ 2: thiếu nhận thức - dốt mà còn không nhận thức được mình dốt. Có lẽ trường hợp “cô vợ xếp” tôi kể trên đây là loại này. “Ếch ngồi đáy giếng” là kiểu dốt độ 2. Loại này khá phổ biến trong xã hội. Tai hại hơn là họ rất tự tin vào “hiểu biết sai” của mình, đôi khi trích dẫn cả nguồn tư liệu sai trái để bao biện cho mình do không thẩm định được độ tin cậy của tư liệu. Có khi lấy cái sai của mình để “dạy bảo” người khác.
- Dốt độ 3: thiếu quá trình - có nghĩa là không chỉ không biết mình không biết, mà còn không có cách nào để cải thiện tình trạng đó. Tôi e rằng trường hợp “cô vợ xếp” kể trên nếu không biết tự nhận thức thì sẽ chuyển từ dốt độ 2 sang dốt độ 3.
- Dốt độ 4: dốt toàn diện – loại này xin miễn bàn. Dân gian có chuyện vui “Dốt có chuôi” để hài kịch hóa loại dốt này.
Ếch ngồi đáy giếng, coi trời bằng vung không chỉ là nhận xét khái quát về  những người không biết tự lượng cái nhìn hạn hẹp của mình hay không biết cái tri thức bị giới hạn của mình trước cái bao la rộng lớn của tri thức nên đã có những suy đoán hồ đồ về sự vật. Tuy nhiên cũng có thể coi như đây là một định luật tâm lý học: sự vật được tri giác như thế nào là do nơi vị trí đứng của chủ thể tri giác.
Con ếch chưa ra khỏi cái giếng bao giờ, nó không biết rằng thế giới bên ngoài rộng lớn lắm khó khăn nhiều lắm, mọi thứ tuyệt vời lắm. Khoảng cách từ miệng giếng đến bầu trời là chặng đường nhận thức thế giới không dễ dàng gì nếu ta không gạt bỏ tự ngã, cố chấp và biết cầu thị,  …
Hegel nói: “Ai nhìn nhận thế giới một cách hợp lý thì thế giới cũng nhìn nhận người đó một cách hợp lý”.

Đó là một chân lí.

Mời đọc bài liên quan : Bàn về sự dốt

Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

DANH NGÔN VÀ DÂN NGÔN


            Huỳnh Văn Cát


         Trí thức được coi thực sự là trí thức, đó là kết quả của sự suy nghĩ, tìm tòi, chứ không phải là trí nhớ.
                                             Léon Tolstoi

          Tình cảm thực sự là tình cảm, đó là kết quả của yêu, thương, hờn, giận, tranh biện thực lòng, chứ không phải là lấy lòng.
                                             Huỳnh Văn Cát
   

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

CÀ PHÊ MỘT MÌNH



                                     Lê Văn Bảy


                         Giọt cà phê đếm thời gian
                         Se se cái lạnh xuân sang đầu mùa
                         Ngập ngừng tiếng guốc ai khua
                         Mơ màng tôi tưởng em vừa tới nơi
                         Thì ra tiếng guốc của người
                         Còn em vẫn ở phương trời xa xôi
                         Một mình tôi với tôi thôi
                         Cà phê từng giọt rơi rơi hạt buồn.
                                     

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

BÀN VỀ BẤT ỔN TRONG ĐỀ THI VÀ ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN ...


        CÓ NHIỀU BẤT ỔN CẦN BÀN TRONG ĐỀ THI VÀ ĐÁP ÁN
        MÔN NGỮ VĂN, KÌ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 PTTH
        NĂM HỌC 2008-2009 CỦA SỞ GD-ĐT QUẢNG NAM

                                                                 Huỳnh Văn Cát

            
            Nhìn chung đề thi môn Ngữ Văn, kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2008-2009 của SGD-ĐT tỉnh Quảng Nam tổ chức ngày 15/6/2009 đã qua sát với chương trình, phù hợp với trình độ học sinh. Có thể nói đây là một đề thi khá hay, nhưng vẫn còn một số điều bất ổn cần trao đổi.

1.      Chiền chiện có phải là từ láy không?

            Trích nguyên văn câu 5, phần trắc nghiệm: “Trong bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ (Thanh Hải), từ nào không phải là từ láy?
            a. Long lanh     b. Hối hả     c. Xôn xao       d. Chiền chiện”

            Câu hỏi trên khá phức tạp đối với các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Tiếng Viêt hiện đại. Bởi vì họ đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Theo cách hiểu của Việt ngữ học hiện đại mà giáo sư Hoàng Tuệ là người đại diện thì chiền chiện, ba ba, đu đủ, thuồng luồng... là từ láy. Bởi vì theo quan điểm của họ “từ láy là từ phức có sự hòa phối âm thanh”. Nhưng theo Đỗ Hữu Châu thì các từ trên không phải là từ láy. Vì theo theo nhà ngôn ngữ học này: từ láy phải có hai đặc tính: Phải có hình vị gốc có nghĩa và có sự hòa phối âm thanh.

            Theo quan niện của Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam : “ Đứng trước tình hình chưa có sự nhất trí giữa các nhà khoa học, giải pháp cuả  sgk Ngừ văn là một mặt thừa nhận quan niệm rộng về từ láy đã được trình bày ở định nghĩa về từ láy ở sgk ngữ văn 6, bao gồm cả từ láy có tiếng gốc có nghĩa và từ láy không có tiếng gốc có nghĩa, đồng thời khi trình bày nghĩa của từ láy có chú trọng nhiều hơn đến từ láy có tiếng gốc có nghĩa”. (Sách GV 7, tập 1, trang 49-50).

            Dựa vào sgk thì đây là một câu hỏi khá đơn giản đối với thí sinh. Chiền chiện là một từ láy, vì chiền + chiện = chiền chiện, hai tiếng “chiền”“chiện” đều không có nghĩa kết hơp lại với nhau do sự hòa phối âm thanh tạo ra từ “chiền chiện” chỉ một loài chim nhỏ hơn chim sẻ sống ở đồng ruộng hay bãi quang đãng, khi hót vút lên cao nên tiếng hót vang xa. Và trong Từ điển từ láy tiếng Việt của Hoàng Văn Hành cũng ghi rõ các danh từ chỉ loài vật như: chiền chiện, chích chòe, ba ba, thuồng luồng, chào mào … đều là những từ láy.

            Như vậy bốn từ: long lanh, hối hả, xôn xao, chiền chiện đều là từ láy. Thế thì câu trắc nghiệm trên không có đáp án. Nói theo ngôn ngữ toán học thì đây là một phương trình vô nghiệm.
    
            2.Từ vai (áo) chuyển nghĩa theo phương thức nào? ẩn dụ hay hoán dụ?

            Trích nguyên văn câu 1a phần tự luận:
                   “Áo anh rách vai
                     Quần tôi có vài mảnh vá
                     Miệng cười buốt giá
                     Chân không giày
                     Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
                                ( Trích bài thơ “ Đồng Chí” của Chính Hữu)

a. Trong các từ vai, miệng, chân, tay ở đoạn thơ trên, từ nào được dùng theo nghĩa chuyển? Nghĩa chuyển đó được hình thành theo phương thức ẩn dụ hay hoán dụ?
            Đây là một câu hỏi thuộc dạng nhận biết khá hay. Nếu thí sinh không phân biệt được ẩn dụ và hoán dụ ngôn ngữ học (phát triển từ vựng) với ẩn dụ và hoán dụ tu từ học (ẩn dụ lời nói- nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt), thì khó có câu trả lời đúng.

           Bởi vì “ Điều quan trọng cần phân biệt là: tuy là hiện tượng gọi tên sự vật nầy, hiện tượng nầy bằng tên sự vật khác, hiện tượng khác có nét tương đồng (ẩn dụ) hoặc quan hệ tương cận (hoán dụ). Nhưng ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ (các biện pháp tu từ) chỉ làm xuất hiện nghĩa lâm thời của từ ngữ, còn ẩn dụ từ vựng và hoán dụ từ vựng (các phương thức phát triển nghĩa của từ ngữ) làm cho từ ngữ có thêm nghĩa chuyển, nghĩa nầy được đông đảo người bản xứ thừa nhận. Vì thế có thể giải thích được trong từ điển” (sách giáo viên 9, tập 1, trang 54).

            Như vậy, muốn biết từ vai (áo) chuyển nghĩa theo phương thức nào thì ta phải đặt nghĩa của nó trong mối quan hệ với nghĩa chính vai (người) và các nghĩa chuyển khác.
             Vai (người) nghĩa chính: phần cơ thể nối liền hai cánh tay(hoặc hai chi trước của thú vật) với thân
           Vai với các nghĩa chuyển:
            Vai của con người là biểu tượng của  thứ bậc trên dưới trong quan hệ gia đình, họ hàng: vai chú, vai anh, vai cháu, vai con...
             Vai là bộ phận của áo, phần nối liền giữa hai tay áo với thân áo nằm chổ vai người.
           Vai là nhân vật trong kịch bản được diễn viên thể hiện trên sân khấu hoặc trong phim(vai chính, vai phụ).

            Nếu nghĩa chính và nghĩa chuyển quan hệ tương đồng thì nghĩa của từ đó chuyển theo phương thức ẩn dụ.

            Nếu nghĩa chính và nghĩa chuyển có quan hệ tương cận thì nghĩa của từ đó chuyển theo phương thức hoán dụ.

            Dựa vào qui luật nói trên thì từ vai( người) và từ vai áo có nét tương đồng: bộ phận nối kết giữa tay và thân. Do đó vai (áo) chuyển theo phương thức ẩn dụ. các từ vai(nhân vật) vai(anh, chị..) chuyển theo phương thức hoán dụ.

            Bài tập nầy có trong bài tổng kết từ vựng( sgk NV9 ttrang 158) và được sgv giải là hoán dụ. Đó là một lời giải sai.

            Vốn tính hiếu tri của một thầy giáo yêu nghề và có trách nhiệm chuyên môn, tôi trao đổi trực tiếp với anh Quang (SGD-ĐT QN) qua điện thoại. Anh Quang trả lời: từ chiền chiện không phải là từ láy vì đây là một danh từ.

            Nếu xét về phương thức cấu tạo từ TV (trừ các từ phiên âm có gốc Ấn Âu) thì chỉ có hai loại từ ghép và từ láy. Chẳng lẽ chiền chiện lại là từ ghép, bởi vì nó không phải là từ láy. Có thể khẳng định đó là một câu trắc nghiêm bất ổn, vì cả bốn từ: long lanh, hối hả, xôn xao, chiền chiện đều là từ láy.

            Từ vai chuyển nghĩa theo phương thức nào? Anh Quang khẳng định từ vai chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ với ba lí do:
            - Từ vai(áo) thay thế cho cả cái áo, nói rách vai là nói rách áo.
            - Sgv giải như vậy thì ta phaỉ theo sgv.
            - Mặt bằng chung của giáo viên hiện nay ai cũng dạy từ vai chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ.

            Tôi thấy lập luận của anh Quang không vững chắc, ba lí do trên không có sức thuyết phuc vì mấy lẽ sau đây:

            -Xét về  mặt khoa học thì đáp án không có cơ sở vững  chắc. Vì khi xác định một từ nào đó là từ láy hay từ ghép, ta dựa vào phương thức cấu tạo của từ đó (ghép hay láy) chứ không phải dựa vào từ loại (danh từ,động từ tính từ). Vì khi xét một từ nào đó chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ hay hoán dụ, ta dựa trên mối quan hệ giữa nghĩa chính và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa( chỉ nhiều khái niệm). Các nghĩa đó được ghi trong từ điển Tiếng Việt, chớ không đặt nghĩa của từ đó trong mối quan hệ với người nói (giả dụ người nói có dụng ý dùng áo rách vai để nói thay cho cả chiếc áo rách đi nữa thì đó cũng chỉ là nghĩa phát sinh trong ngữ cảnh chứ không phaỉ là nghĩa chuyển, nghĩa phaí sinh từ nghĩa chính.

            Sgk cũng như sgv môn NV( các bậc học) hiện hành vẫn có những sai sót cần hiệu đính. Tôi xin đơn cử một trường hợp để làm bằng chứng: Câu 2 trang 86 NV9, tập 1- “thống kê những từ ghép là là tính từ, danh từ, động từ (gần xa, yến anh, chị em, tài tử, nô nức, dập dìu...). Đúng ra sgk phải thống kê những từ phức. Vì nô nức dập dìu không phỉ là từ ghép.

           Tôi khẳng định sgv đã giải sai bài tập trong đề thi trên.  

            Không thể nói đa số giáo viên dạy theo cái sai của sgv gọi là mặt bằng chung. (Mà chưa chắc giáo viên dạy sai như sách một cách mù quáng).  Phần đông giáo viên dạy sai theo sách, phần đông học sinh làm bài sai như sách mà người ra đề cho là học sinh đó làm bài đúng và đạt điểm tối đa, trong khi một số ít giáo viên có bản lĩnh sư phạm dạy đúng, một số ít học sinh làm bài đúng thì bị điểm (0).
            Một cái đáp án sai thì không thể đánh giá chính xác, công bằng chất lượng học tập của thí sinh.

            Với trách nhiệm của một thầy giáo dạy NV đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà, tôi thấy đề thi sai, đáp án sai có sự liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng khác.

            Về mặt khoa học thì chân lí khách quan phải rạch ròi đúng sai, không thể có cái chân lí lập lờ đánh lận con đen theo ý kiến bầy đàn, theo ý chủ quan của người có quyền hạn chuyên môn.

            Về phía học trò, kì thi tuyển sinh vào lớp 10PTTH là một kì thi vô cùng quan trọng, kì thi quyết định số phận thí sinh học ở trường nào, chỉ cần chênh nhau 0,25đ, là thí sinh đó vào trường công lập., bán công hay tư thục.

           Do đó tôi đề nghị SGD-đT QN nên xem xét lại đề thi và đáp án trên.

      (Huỳnh Văn Cát - Giáo viên trường THCS Mĩ Hòa- Đại Lộc)

           Mùa thi năm 2009

TB
Văn bản trên đã được gởi SGD-ĐT QN,qua đường bưu điện, trước ngày triên khai đáp án ở các Hội đồng chấm thi của kì thi năm ấy. Đáp án không được điều chỉnh và đến nay tôi vẫn chưa có lời hồi đáp.

Nhân dịp cả nước sôi nổi bàn về giáo dục, tôi đăng bài này lên blog  để góp phần xây dựng.

Mời đọc bài liên quan: BẤM VÀO ĐÂY



Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

ĐÀN ÔNG CẦN GÌ ?


     (không rõ tác giả)

Điều làm đàn ông không chịu nổi là sự lảm nhảm của người vợ, nước mắt của người tình và sự hiểu lầm của hồng nhan tri kỷ. Đàn ông cả đời đi tìm không phải vợ, cũng không phải người tình mà là hồng nhan tri kỷ.

Thế nào là vợ? Là người con gái mà bạn tình nguyện giao cả gia tài cho cô ấy cất giữ. Thế nào là người tình? Là người con gái mà bạn hẹn hò vụng trộm với cô ấy và sợ vợ phát hiện. Thế nào là hồng nhan tri kỷ? Là người con gái mà bạn có thể nói với cô ấy tất cả mọi bí mật, kể cả điều mà bạn không thể nói được với vợ hay người tình.
Vợ là một sự ràng buộc, ràng buộc bạn không thể tùy tiện cặp bồ với một người con gái khác. Người tình là một sự bù đắp, bù đắp cho bạn những tình cảm mãnh liệt mà ở người vợ còn thiếu hoặc bạn không tìm được ở người vợ. Hồng nhan tri kỷ là sự chỉ rõ, chỉ rõ sự mê say trong trái tim bạn.
Vợ sống cùng bạn từng ngày, người tình tiêu tiền cùng bạn, hồng nhan tri kỷ nói chuyện cùng bạn. Vợ không thể thay thế người tình, vì vợ không điều khiển được tình cảm như người tình. Người tình không thể thay thế vợ, vì người tình không có được tình thân như vợ. Vợ và người tình đều không thay thế được hồng nhan tri kỷ, vì đó nhu cầu của tâm linh.
Vợ là người con gái không hề có chút quan hệ máu mủ nào với bạn nhưng lại bồn chồn mong nhớ mỗi khi màn đêm đã xuống mà bạn chưa về nhà. Người tình là người con gái không hề có chút quan hệ gia đình với bạn nhưng lại làm cho bạn thỏa mãn mùi vị ái tình của đấng nam giới. Hồng nhan tri kỷ là người con gái chẳng có quan hệ gì với bạn nhưng lại có thể chia sẻ cùng bạn những vui buồn phiền muộn.
Vợ là một ngôi nhà, là một bến cảng mang cho trái tim nông nổi của bạn sự vỗ về an ủi. Người tình là gánh nặng của ngôi nhà, chẳng qua chưa đến nỗi vạn bất đắc kỷ, bạn không muốn vứt bỏ. Hồng nhan tri kỷ là vật tô điểm cho ngôi nhà, không có cô ấy bạn không thấy cô đơn, nhưng bạn sẽ cảm thấy cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì.
Sự quan tâm của người vợ như một ly nước lọc, có lúc trở thành sự lảm nhảm, chỉ khi bị ốm mới trở thành sự ôn hòa. Sự quan tâm của người tình như cốc nước lọc đó bỏ thêm chút đường, dần dần qua một đêm rồi mà vẫn chưa thỏa mãn. Sự quan tâm của hồng nhan tri kỷ giống như cốc cafe khi bạn đang làm việc lúc nửa đêm, càng uống càng tỉnh.
Khi vợ có bầu thì sẽ hỏi bạn muốn có con gái hay con trai một cách rất tình cảm. Khi người tình có bầu với bạn thì sẽ khóc và hỏi bạn phải làm sao bây giờ? Đối với hồng nhan tri kỷ, bạn sẽ kể cho cô ấy nghe chuyện người tình của bạn có bầu và sẽ hỏi cô ấy bạn nên làm thế nào. Ngay đối với người vợ, chỉ sau khi bị cô ấy phát hiện bạn mới nói rằng "Thật ra, anh đã muốn nói với em sớm hơn" sau đó cố gắng hết sức để giải thích, và giả bộ rất đáng thương.
Khi vợ về nhà mẹ đẻ một tuần không quay lại bạn cũng không thấy nhớ. Khi người tình mới 3 ngày không gặp bạn liền gọi điện cho cô ấy: Em đi đâu đó? Tối nay chúng mình đến nơi cũ uống cafe được không? Khi trong lòng cảm thấy buồn khổ, bạn chỉ muốn tìm hồng nhan tri kỷ để trò chuyện, nói với cô ấy chuyện vận mệnh của bạn giữa vợ và người tình, thực tế không thể chịu đựng được nữa.
Điều làm đàn ông không chịu nổi đó là sự lảm nhảm của người vợ, nước mắt của người tình và sự hiểu lầm của hồng nhan tri kỷ. Sự lảm nhảm của người vợ làm đàn ông thấy đã rối cả lòng lại càng thêm rối hơn, nước mắt của người tình làm cho trái tim của đàn ông mềm yếu hơn, sự hiểu lầm của hồng nhan tri kỷ làm cho đàn ông thấy bị tổn thương, hụt hẫng.
Người vợ tốt nhất là người mà đàn ông có thể tìm thấy ở cô ấy người tình và hồng nhan tri kỷ, chỉ là cảm giác thôi mà đàn ông khó có thể tìm thấy. Người tình tốt nhất là người mà khi mối quan hệ của bạn và cô ấy bị vợ bạn phát hiện, cô ấy sẽ chủ động rút lui mà không có một yêu cầu gì hết, nhưng khó mà tìm được điểm này của người tình. Hồng nhan tri kỷ tốt nhất là người đến một ngày nào đó sẽ trở thành người tình, thậm chí thành vợ của bạn, chỉ là cái suy nghĩ này chẳng có chút hiện thực gì cả.
Nếu như có thể, đàn ông rất muốn biến hồng nhan tri kỷ thành người tình, nếu có thể nữa thì sẽ muốn cô ấy thành người vợ. Nhưng nếu hồng nhan tri kỷ trở thành vợ rồi thì sẽ không còn là tri kỷ nữa, bởi vì rất ít đàn ông muốn biến vợ thành tri kỷ. Trái tim đàn ông có rất nhiều bí mật không thể tùy tiện nói cho vợ nghe, không thế thì làm sao gọi là đàn ông nữa.
Lấy vợ là vì sợ người khác nói ra nói vào, tìm một người tình là vì muốn thêm chút gia vị vào để điều chỉnh cái cuộc sống tẻ nhạt, muốn có hồng nhan tri kỷ vì muốn tưới cho tâm hồn trống rỗng của họ một chút canh tươi. Đàn ông cả đời đi tìm không phải là vợ, cũng không phải là người tình mà là hồng nhan tri kỷ.