Thứ Năm, 7 tháng 3, 2013

DŨNG YAMAHA VÀ CÂY CẦU QUA SÔNG VU GIA


     Mộc Nhân

Cầu tre tạm bợ qua sông Vu Gia - mấy năm trước

1. Anh Dũng Yamaha:
Anh là Lê Tất Dũng, còn cái tên Dũng Yamaha không phải do tôi đặt mà do nhiều người gọi riết thành quen. Sở dĩ gọi như vậy bởi vì anh là tay chuyên sửa xe Yamaha, nói rộng hơn là anh chuyên sửa xe hai thì.
Những năm 1990, khi xe máy Honda còn là thứ xa xỉ nên những chiếc xe hai thì như Yamaha, Suzuki cà tàng chạy xăng pha nhớt hãy còn phổ biến. Đi mấy con xe này cũng gần như cỡi trên cục nợ vì nó hay đứng máy tùy ý … Kiểu như con nhà nghèo suy dinh dưỡng nên lúc trái gió hay ốm vặt. Nhưng trong lúc chưa có xe gì để chạy thì có nó vẫn còn hơn là… đi bộ hoặc đi xe đạp !
Loại xe này mà hỏng thì chỉ có dắt đến tiệm sửa chứ khổ chủ chẳng thể xoay xở gì được. Và ở Đại Lộc chỉ có Dũng là tay rành về xe máy hai thì. Anh sửa xe nhanh do bắt đúng bệnh, giá bình dân, không chém chặt, lại phục vụ khổ chủ tận tình không kể đêm hôm … Vì vậy nên dân đi  xe hai thì gọi anh một cách thân mật gần gũi là Dũng Yamaha. Cái tên đó phổ biến dần dần đến nỗi mọi người đều gọi như vậy dù thậm chí có người chẳng biết Yamaha là cái gì !
MN tôi có thời khó khăn chạy chiếc xe Yamaha nên thân quen với anh là chuyện tất nhiên – hơn nữa tôi với anh Dũng cũng là anh em trong làng Phú Lộc.
Bẵng đi mươi năm không biết anh đi đâu, làm gì.
Có lẽ qua cái thời kì người ta đi xe Yamaha đời cũ nên anh Dũng thất nghiệp. Chiếc xe hai thì thảm hại của tôi cũng đã được hóa kiếp sắt vụn và thăng hoa thành một chầu nhậu ra trò nên tôi không còn có dịp gặp anh thường xuyên nữa.
Nghe nói anh dọn lên miền núi mở tiệm xe rồi buôn bán gì đấy…
Có lẽ đỡ vả hơn dưới này chăng.
Chắc thế, bởi có một dạo gặp lại anh tình cờ ở quê, trông anh có vẻ mập đầy hơn, không còn cái dáng dấp cà tàng khắc khổ như mấy chiếc xe hai thì dạo nào.
2. Cây cầu qua sông Vu Gia:
Nửa cuối năm ngoái, nghe nói anh Dũng đang làm cho dân làng một cái cầu qua sông Vu Gia đoạn chảy qua thôn Phú Lộc, nối giữa hai xã Đại An và Đại Cường.
Anh Dũng và cây cầu phao mới
do anh đầu tư, thiết kế và thi công

Thôn Phú Lộc nằm sát dòng Vu Gia, hai bên bờ sông là những bãi ngô, nương dâu, ruộng dưa bạt ngàn quanh năm mang công ăn việc làm và thu nhập đến cho bà con. Không những vậy, vẻ đẹp của sông nước, đất đai vùng này đã sinh ra nhiều cô gái đẹp nổi tiếng với tên gọi chung là “con gái xứ Ba châu”.
            Nhưng khổ nỗi là đôi bờ cách trở. Muốn qua bên kia sông phải đi đò. Con nít đi học cha mẹ phải đi cùng, dân nông ra đồng phải đi sớm, chiều lo về sớm để khỏi trễ đò, khách vãng lai cũng khổ vì gọi đò, dân hai bên bờ sông muốn qua lại cũng chẳng thuận tiện gì… Khổ nhất là dân làng đến mùa thu hoạch phải chuyển về nhà hàng ngàn tấn nông sản như bắp, khoai, đậu, mè … rồi cây dâu, cây ớt đã xong mùa thu hoạch mang về làm chất đốt …
Thực ra thì trong mấy năm gần đây dân làng cũng làm cầu tre đi tạm qua sông trong mùa cạn, nhưng đến mùa nước lớn thì phải dở bỏ cầu, nếu không thì cầu tre cũng sẽ bị nước cuốn trôi. Vậy là lại đi đò ghe cho đến khi hết mùa lại huy động toàn làng làm cầu tre mới …
Anh Dũng là người trong làng, nhà anh ở gần sông nên anh hiểu được nỗi khổ của bà con.
Trong tay anh có 300 triệu đồng ky cóp sau nhiều năm lăn lộn xứ núi, bây giờ về quê chuẩn bị dựng căn nhà mới . Nhưng chỉ sau một thời gian ở quê, chứng kiến cảnh người dân thôn mình vẫn phải í ới gọi đò, lội sông như cách đây hai mươi năm …Thế là anh quyết định dành toàn bộ số tiền trên làm một cây cầu bắc ngang dòng Vu Gia để người dân làng mình qua lại làm ruộng bên kia sông.
           Vậy là anh Dũng bắt đầu ra Đà Nẵng lùng sục khắp nơi tìm mua thùng phuy, cáp kéo, tời... Sau đó một mình anh lui cui vẽ cầu rồi chạy lên huyện, tỉnh xin giấy phép. Trước khi làm, anh xin chính quyền được họp dân để hỏi ý kiến và được dân làng ủng hộ.
Gần 150 cái phuy được hàn chặt vào nhau tạo nên cây cầu...

          Cứ bốn thùng phuy ghép thành phao và tổng cộng gần 150 cái phuy được hàn chặt vào nhau tạo nên cây cầu. Hệ thống cáp to bằng ngón chân cái níu giữ thân cầu. Giữa cầu, một tuôcbin có nhiệm vụ nâng đỡ rồi quay một phần thân cầu khi có tàu thuyền đi qua. Hai thành cầu có thanh sắt nhỏ để bảo vệ, đồng thời là tay vịn cho người đi bộ qua cầu.
Khi anh Dũng bắt tay xây cầu, không những người dân làng Phú Lộc mà làng trên xóm dưới hai bên sông đều kéo đến giúp anh cắt sắt, ghép phuy và rồi lại khiêng phao để sẵn ở  bến sông chờ ngày hạ thủy.
           Ngày khánh thành cầu vào trước tết Quý Tỵ, cả làng vui như mở hội.
           Bây giờ hạnh phúc của anh Dũng Yamaha không phải là căn nhà mơ ước mà là cây cầu. Gia tài còn lại chỉ là căn nhà lợp tôn với vài vật dụng cũ kỉ.
Nhìn người dân làng ra đồng và chở nông sản về nhà, nhìn lũ học trò tung tăng đến lớp nhún nhảy trên cây cầu có lẽ trong anh ngập tràn niềm vui vì đã làm được một việc tốt cho quê hương.
Mộc Nhân tôi gần đây gặp lại anh Dũng Yamaha, trong một lúc gật gù gợi lại chuyện xưa cũ mới nhắc lại việc mình đã hóa kiếp sắt vụn cho chiếc Yamaha cũ mèm xì khói ; còn anh Dũng thì nghẹn ngào vui sướng nói “mình đã hóa kiếp ngôi nhà mơ ước của mình thành cây cầu qua sông”.
Ôi những cái “kiếp” và những ước mơ !
           Chẳng biết nó theo đuổi con người đến bao giờ mới thôi ! 
Và thật đáng trân trọng những con người như anh Dũng không ước mơ để "hóa kiếp" cho riêng mình mà dành mơ ước đó cho mọi người.
Đến đây thì người viết liên tưởng đến Đỗ Phủ - nhà thơ lớn Trung Quốc đời Đường, ông đang sống trong một ngôi nhà tranh tốc mái dột nát nhưng ông không lo cho mình mà lại mơ ước về một ngôi nhà lớn che cho khắp thiên hạ :

            "An đắc quảng hạ thiên vạn gian,
           Ðại tí thiên hạ hàn sĩ câu hoan nhan,
           Phong vũ bất động an như san.
           Ô hô, hà thời nhãn tiền đột ngột kiến thử ốc,
           Ngô lư độc phá thụ đống tử diệc túc. "
                                    (Trích bài thơ "Mao ốc vị thu phong sở phá ca")
          Dịch :

          "Ước gì nhà rộng muôn ngàn gian,
          Che khắp thiên hạ kẻ sĩ nghèo đều hân hoan,
          Gió mưa chẳng núng, vững vàng như thạch bàn!
          Than ôi! Bao giờ nhà ấy dựng sừng sững trước mắt,
          Riêng lều ta nát, chịu chết rét cũng được! "
                                         (Bản dịch bài thơ  "Bài ca nhà tranh bị gió thu phá")
            
             Hóa ra danh nhân và thường dân đều có thể gặp nhau ở cái TÂM.
            Nhưng nếu chọn giữa Thi thánh Đỗ Phủ và dân đen Lê Tất Dũng (Dũng Yamaha) thì tôi sẽ cúi mình kính phục anh Dũng Yamaha.
             Bởi vì cái ước mơ của Đỗ Phủ chỉ là mơ ước của kẻ sĩ bất đắc chí, sinh bất phùng thời , lực bất tòng tâm - muốn mà làm chẳng được nên chỉ còn lại cái khẩu khí Đại Hán .
Tâm sáng , nghĩ đúng , làm ngay 

            Còn anh Dũng Yamaha của Việt Nam thế kỉ XXI thì mơ ước cho mọi người và tạm thời gạt bỏ hiện thực gần gũi có thể mang lại cho anh hạnh phúc đời thường .
            Tâm sáng , nghĩ đúng , làm ngay . Và anh cũng chẳng đại ngôn, chẳng khẩu khí gì cả , chỉ đơn giản là "thấy mọi người vui là tôi vui rồi" .

Thứ Bảy, 2 tháng 3, 2013

NỖI BUỒN VU GIA


 Lê Văn Bảy

Sông Vu Gia - cầu Ái Nghĩa

Thương câu “Uống nước nhớ nguồn”
Nhìn dòng sông đục mà buồn cho sông
Dẫu chưa uống đã đau lòng
Tìm đâu ra giọt nước trong thuở nào
Ngày xưa nước đục ở ao
Bây  giờ sông rộng nước nào có hơn
Tìm đâu ra bóng hình em
Bên cầu giặt áo dưới đêm trăng tròn
Thương câu “Uống nước nhớ nguồn”
Mà lòng trĩu nặng nỗi buồn Vu Gia.

Thứ Năm, 21 tháng 2, 2013

BỨC THƯ TÌNH CỦA CỤ GIÀ 90 TUỔI


 Em yêu quý,
Anh ngồi bấu tay vào thành giường nhìn ra ngoài trời.
Hình như mưa... Mắt anh mấy ngày nay thấy nắng loà nhoà lại tưởng mưa, thấy mưa thì nhìn như đang nắng xuống.
Thằng chắt nội nói, mắt cụ nhìn không rõ nữa, cụ đi đâu để cháu dắt.
Nó nói thật em nhỉ? nhưng mình cần gì nó dắt, ví thử có em đến ngoài ngõ kia, anh chẳng nhìn thấy rõ mồn một sao?
Anh vẫn khoẻ !
Mỗi ngày các cháu nó cho ăn năm bữa, mỗi bữa một bát cháo đã nát nhừ.
Anh chỉ dám viết thư cho em mà không dám gọi điện vì tiếng của anh nói em chỉ có thể nghe như tiếng rừng phi lao xào xạc....
Sáng nào anh cũng đi thể dục, đi từ mép giường ra tới... bậc cửa sổ, vị chi là bốn bước !!! Bốn bước mà đi mất hai giờ, mồ hôi đổ vã ra, sảng khoái ghê!
Nay con cháu đông rồi, anh không phải đánh máy như ngày xửa ngày xưa nữa, các cháu giúp ông.
Nhưng khi viết thư cho em, anh phải tự đánh máy lấy. Thư này anh viết từ mùa hè! đến... đúng mùa đông thì xong ! ( mỗi ngày anh viết quần quật được.... hai dòng )
Ngày nào viết đến ba dòng thì anh phải truyền một lọ sérum.
Nhớ cách đây chừng 50 năm em nhỉ, chúng mình chạy ào ào trên bãi biển Nha Trang...
Em thì lúc nào cũng hét lên: Thích quá cơ !
Còn anh thì chạy theo sau nhìn em, thấy đôi chân em trắng loáng trong ánh chiều hoàng hôn ở bãi biển Nha Trang mà nhớ mãi....
Giờ vẫn nhớ đấy ! em có tin anh ?
Hôm rồi, nhớ em quá bảo đứa cháu nó đưa ra biển.
ðịnh nhấc chân bước, định hổn hển nhắc lại lời em nói: thích quá cơ! nhưng suýt nữa người anh đổ chúi xuống vì... gió biển thổi !!!
Nay anh nhận được tin em đã hết ốm, đã ăn được mỗi bữa... năm thìa cháo bột mà anh mừng quá ! Ăn năm thìa là tốt rồi, ăn nhiều quá không nên em ạ!
Anh khoẻ thế này mà chỉ ăn... bốn thìa thôi là thấy no căng.
Nhớ ngày xửa ngày xưa vẫn thích ăn cơm nguội với nước cá kho. Vừa rồi, tự dưng thèm cơm nguội cá kho, ăn một chút thôi mà miệng anh như ăn phải đá hộc, đau tê tái!
Anh nhắc nhé, nếu ngoài trời có gió là em không được ra ngoài.
Hôm qua, mấy đứa cháu bảo ông ơi, ra sân hóng mát, gió nồm mát lắm ông ạ! Theo chân nó vừa ra tới sân, ngọn gió nồm suýt thổi anh... bay lên nóc nhà, may có hai thằng cháu giữ chặt.
Sắp tới ngày sinh nhật em nhỉ. Thế là em đã tròn tuổi 80.
Hôm đó anh sẽ cố gắng điện thoại. Nhưng anh nói trước, nếu em nghe tiếng xào xào tức là anh nói rằng:
Em đấy hả ?
Khi nghe tiếng thùm thùm tức là: Anh đang chúc em sinh nhật vui vẻ.
ðến khi nghe tiếng phù phù nhiều lần là: anh đang hôn em.
Nhớ hồi ấy, anh đưa hai tay lên nhấc bổng em quay mấy vòng giữa trời, em cười rất to.
Giờ anh nhìn lại đôi tay mình, hình như tay ai, nhìn rất tội.
Hôm qua anh cố nhấc con búp bê bé tý lên cao mà nghe tiếng xương cốt kêu răng rắc, sợ quá nên thôi..
Em ngủ ngon không?
Anh chợp mắt từ chập tối. đến khoảng 9 giờ là dậy, ngồi, nhìn ra trời đêm.
Mấy đứa cháu nói ông ngủ ít quá!
Anh bảo: thì đến khi ông ra đi, xuống đất, ông ngủ cả ngày lo gì ?
Thỉnh thoảng, anh vẫn mở máy tính, xem lại mấy bài viết trên Blog hồi ấy,. thấy rất vui.
Chắc giờ mấy ông, mấy bà Blogger cũng không còn mấy ai nữa, lâu chẳng thấy ai vào blog nữa.
Lũ cháu hỏi, ông ơi: Blog là gì ?
Thời buổi tân tiến mà! Chúng nó bây giờ chẳng có Blog.
Ngồi bô đi ị mà vẫn có màn hình máy tính ở miệng bô, thích thật!
Thời buổi giờ hiện đại quá, mình chẳng biết gì.
Nhà anh, có cái máy giặt, con cháu nó đi làm, điều khiển từ xa, điều khiển cả robôt.
Anh ngồi, rôbốt nó đến, nó cởi áo anh ra, nó gội đầu cho anh, tắm táp, rồi còn mang áo quần đi giặt.
Lũ trẻ bây giờ yêu nhau cũng nhờ rôbôt làm hộ.
Máy chữ không cần đánh, muốn viết gì, chỉ cần đọc là máy tính tự gõ chữ. Nhưng tiếng anh phì phèo quá nên máy chữ nó đánh sai hết cả.
Ai đời anh viết: Em ơi, anh nhớ em lắm!
nhưng vì miệng anh móm mém phì phò nên máy nó nghe không rõ, nó đánh thành:
Phem phơi, phanh phớ phem phắm!
Thế mới bực !!!
Anh không muốn gọi em là bà. Cứ gọi nhau bằng anh, bằng em thế nghe ngọt ngào...
Hai ngày nữa anh tròn 90 tuổi.
Anh đợi thư em.
Mà nếu không gửi được thư thì bảo Rôbôt nó mang thư đến cho anh em nhé.
Anh dừng bút.
Thắng chắt nội đang mang chén cháo bột đến để cho anh ăn.
Chúc em ngủ ngon nhé. Nhớ đừng ra gió nghe em !
Anh

Nguồn: www.vietnamnet.vn

TAO ĐÀN CÓC NHÁI NGÀY XUÂN


Trần Hoàng Nhân

Như mọi năm, Xuân đến là vương quốc Đầm Lầy tổ chức lễ hội Tao Đàn ở khắp các tỉnh thành. Có một địa phương từ cấp xã đến cấp tỉnh đều có ngày thơ riêng, đỉnh cao là ngày thơ trong đêm trăng tròn tháng Giêng trên một đỉnh núi. Câu lạc bộ thơ các cấp đều hồ hởi phấn khởi trong tháng Giêng này. Một số nhà thơ chạy show đọc thơ mệt nghỉ trong suốt mấy ngày Xuân. Chất lượng thơ của lễ hội tao đàn Đầm Lầy chưa biết hay dở thế nào, nhưng chắc chắn là thơ “chuẩn không cần chỉnh”.
Ngày trước các cụ thơ rằng: “Con mèo con chuột có lông/ Cây tre có mắt nồi đồng có quai”. Ngày nay, một số thi sĩ trong Đầm Lầy có thơ tả cảnh quê hương, rằng: “Quê tui có một dòng sông/ Mùa hè nước cạn mùa đông nước đầy/ Cầm cần câu cá trên tay/ Cá bơi dưới nước chim bay trên trời”. Hoặc: “Chị tui lớn tuổi hơn tui/ Mẹ tui còn lớn hơn tui rất nhiều/ Ngoài đồng có một cánh diều/ Diều mà có gió thì diều nó bay”…

Năm nay (cũng như các năm nọ), Tao Đàn Đầm Lầy quyết định ngoài cờ xí trống chiêng còn có các phần trình diễn thơ, múa thơ, đánh quyền thơ và nhảy hip hop thơ… cho sinh động để khán giả bớt buồn ngủ. Các năm trước, có một thi sĩ lão gia còn quấn cả giấy vệ sinh quanh người mình trong khi thi hữu khác hú hét gào thơ kiểu nhạc rock.

Cư dân trong Đầm Lầy đa phần là nòng nọc cụt đuôi nên mọi sự diễn ra ở lễ hội Tao Đàn đều ngẩn tò te không biết gì. Chỉ biết rằng nằm nào cũng vậy, bộ phận truyền thông của lễ hội phát trên đài, trên báo rằng: Tao Đàn năm nay nhất định thành công tốt lành, rằng bạn bè thế giới tròn xoe mắt mà kính phục chúng ta, rằng thơ ca đã đu theo các chùm bóng bay lên trời khiến thượng đế cũng động lòng mà thương cho giống loài cóc nhái của Đầm Lầy nhà mình v.v…

Nhớ năm ngoái, một vị ếch gần già (chứ chưa lẩm cẩm) nằm trong ban tổ chức lễ hội Tao Đàn tuyên bố rằng: “Sẽ xây dựng Đầm Lầy thành một cường quốc thơ ca của thế giới”. Nghe tuyên bố này, rất nhiều cư dân nòng nọc bé nhỏ của Đầm Lầy sung sướng như mơ. Bởi các vương quốc khác họ trở thành cường quốc nhờ dân họ tiền nhiều, nhờ tên lửa hột nhơn, nhờ thủy quân hiện đại… Đầy Lây ta không có các phương tiện trên thì ta có thơ thể hiện tâm hồn mơ mộng và tinh thần yêu chuộng hòa bình. Nếu vương quốc nào trên trái đất này cũng chạy đua thành cường quốc thơ thì chiến tranh không thể nào xẩy ra, mà nếu có xẩy ra vì chạy đua… thơ thì chắc cũng chẳng có ai bị thương và ngày tận thế càng không có cơ hội.

Ở Đầm Lầy, gần như ai cũng biết làm thơ. Nòng nọc làm thơ kiểu… cụt đuôi, nhái bén làm thơ kiểu… lúc xanh lúc vàng do màu da quy định, cóc cọt làm thơ kiểu… ọt ọt do tiếng kêu v.v.. Chính vì nhà nhà làm thơ, người người mần thơ với một lực lượng hùng hậu được trang bị “thơ tận răng” như thế, Đầm Lầy xứng đáng là cường quốc thơ chứ còn gì nữa?! 

Một số vị giáo sư cóc, tiến sĩ nhái, nhà tuyên giáo nòng nọc, nhà phê bình ễnh ương ăn lương của vương quốc còn viện dẫn về truyền thống thơ ca qua mấy mùa mưa của Đầm Lầy trong các cuộc hội thảo thơ, hội nghị ca. Dù nước trong đầm lầy lúc đầy lúc cạn nhưng thơ ở vương quốc này chưa bao giờ vơi. Toàn là những lý do “chân chính đáng” để Đầm Lầy trở thành cường quốc thơ ca thế giới.

Một số khác cũng cùng chung số phận giống loài nòng nọc cụt đuôi nhưng nhờ có đọc báoTuổi trẻ Cười, phản đối cái sự “ảo vọng, duy ý chí, phi thực tế” cường quốc thơ này. Họ phản đối vì mới trước Tết Quý Tỵ đây thôi, tầng lớp thợ thuyền là nồng cốt làm ra sản phẩm phục vụ chúng sinh của Đầm Lầy có nơi chỉ được thưởng Tết bằng cân bột ngọt, đường và tờ lịch treo tường có em gái mặt bikini… dòm cho đỡ tủi. Mới năm ngoái thôi, kẹt xe vẫn còn là vấn đề nan giải của lãnh đạo các thành phố lớn trong Đầm Lầy, là hình ảnh kỳ dị trong mắt người nước ngoài có văn minh và là nỗi khốn khổ cho hàng chục triệu dân đen nòng nọc thành thị. Còn môi trường sống thì ngày càng tệ, lương tiền mất giá trầm trọng, ô nhiễm từ cọng rong rừng đến nguồn nước mưa… Vậy thì trở thành cường quốc thơ để làm gì? Để ru ngủ sự đói nghèo lạc hậu à! Chưa kể, mấy ông bà thi sĩ ễnh ương kêu to nhất trong Đầm Lầy này xưa nay chỉ có giải “nô-đùa” chứ có cái giải “nô-ben” nào đâu mà dám ngẩng mặt với các vương quốc khác về tài thơ của mình mà đòi làm cường quốc?!

Cuộc tranh cãi ở vương quốc Đầm Lầy về lễ hội Tao Đàn giữa một ngày Xuân hiu hiu gió nắng đượm vàng, bị một lão người lắng nghe. Lão người này dựng chòi thơ sinh sống lâu năm trên Đầm Lầy. Ở tuổi hơn một đời người, lão đủ bình tĩnh để lắng nghe mọi thứ, thế mà lão vừa nghe vừa nổi giận. Lão nhủ thầm trong bụng: “Cái xứ cóc nhái Đầm Lầy chúng mày mà cũng đòi cường quốc Tao Đàn à. Ở xứ loài người bọn ta, đi đâu cũng thấy “thi phú” tức là… trạm “thu phí”. Công khai sẽ có trạm bán vé rồi thì ghi trên bảng điện tử: “Hiện kim đồng xin mời qua”. Bán công khai thì phải biết điều, không biết thì mệt mỏi đấy. Thi phú… rõ ràng là vậy mà loài người bọn ta còn chưa dám nhận cường quốc thơ ca, cóc nhái chúng mày thuộc cái giống ộp ộp mà cũng tranh cãi với nhau chí chóe, nghe nhức cả lỗ nhĩ”.

Lẽ ra lão người quăng một mẻ lưới quét sạch bọn cóc nhái hay mần thơ trong Đầm Lầy. Thế nhưng vì lão là người nên “hiểm độc” hơn, lão làm một bài thơ tên là “Tao Đàn cóc nhái” rồi thuê bọn người chuyên in lậu photo hàng vạn bản với giá rẻ hơn tảo độc ném xuống Đầm Lầy. Lão cười bí hiểm: “Phen này, vương quốc Đầm Lầy cóc nhái chúng mày sẽ bị ô nhiễm thơ của tao mà tuyệt chủng. Hơ hơ hi hi ha ha” - lão cười ngất ngây sung sướng tột cùng.
Bài thơ của lão người có gì mà đòi tiêu diệt cả một giống loài cóc nhái yêu thơ ca và chỉ mong muốn thơ ca làm bá chủ cơm áo, chiến tranh…? Bài thơ đó của lão người như thế này, được ghi lại từ một nhà thơ dân gian quá cố tên là Lê Trung Dị - vốn là cư dân nòng nọc cụt đuôi trong Đầm Lầy - sau cuộc tuyệt diệt của lão người, Lê Trung Dị thoát kiếp ễnh ương đầu thai thành giống người, chép lại rằng:
Kỳ quá không mưa cóc vẫn ra
Duyên đâu cóc nhái họp chung nhà
Cóc già chễm chệ ngồi chong mắt
Cóc trẻ lăng xăng đọc diễn ca
Cóc thị, cóc quê bò lếch thếch
Cóc sông, cóc núi đứng khề khà
Cùng nhau xướng họa nghe con cót
Cường quốc thơ mơ dữ vậy ta?
  
Nguồn: Thể Thao Văn Hóa số xuân Quý Tỵ 2013

LỜI BỐ DẶN CON TRƯỚC KHI LẤY VỢ


Nguồn: VN.net
Nếu như một người mẹ dặn con gái phải biết ứng xử khéo léo với chồng và nhà chồng, dù bận rộn công việc cũng phải thu vén việc nhà, dạy dỗ con cái…, thì một người bố cũng dặn dò con trai rằng: lúc giận cũng đừng dùng những lời lẽ xúc phạm, hay hành vi bạo lực với người con sẽ đầu ấp tay gối cả cuộc đời; dù ở ngoài xã hội, con có là "ông lớn, ông bé", thì về nhà con vẫn phải giúp vợ việc nhà; thời kỳ mang thai là khó khăn nhất đối với phụ nữ, hãy cùng cô ấy cảm nhận niềm vui của những ông bố bà mẹ...
Lời bố dặn con trai trước khi lập gia đình:
"Bố bảo lúc giận có thể cãi nhau nhưng đừng thượng cẳng chân hạ cẳng tay. Cãi nhau không có nghĩa con dùng những lời lẽ xúc phạm dành cho người mà con sẽ đầu gối tay ấp cả cuộc đời. Cãi nhau có nghĩa là nói hết những gì trong lòng để hai vợ chồng hiểu, thông cảm cho nhau, xóa đi hết mỏi hiểu lầm. Bản thân con còn chẳng hiểu được con, thế nên đừng mong người khác phải hiểu khi con cứ giữ trong lòng. 
Bố bảo cãi nhau với phụ nữ thì đừng có nói nhiều, chỉ cần nói vừa đủ. Độ khuếch tán âm thanh của đàn ông chẳng bao giờ bằng phụ nữ. Một người vợ chân chính sẽ đủ tinh tế để biết khi nào cần nói, lúc nào nên im lặng ngay cả trong khi nóng giận nhất. 
Bố bảo nhìn vào chiếc giường là biết cuộc sống vợ chồng có hạnh phúc hay không. Dù chuyện gì xảy ra đi chăng nữa, đừng mang chăn gối ra sofa ngủ, cũng đừng quay lưng vào người vợ của con. Hãy ôm cô ấy vào bờ vai và khuôn ngực nóng hổi của con. Tất cả sẽ qua đi, chỉ tình yêu còn lại.
Bố bảo dù ở ngoài xã hội, con có là xe ôm, hay ông lớn, ông bé, thì về nhà con vẫn là trụ cột của gia đình. Vợ con có thể là người phụ nữ rất đảm đang, cô ấy có thể đóng đinh, sửa ống nước hay tháo quạt trần, nhưng con hãy làm việc đó, trừ khi con quá bận. Nó vừa thể hiện sự công bằng, vừa thể hiện sự chia sẻ vợ chồng.

Bố bảo sau khi kết hôn sẽ hơn một lần con cảm thấy hối hận, thậm chí có mối quan hệ ngoài chồng ngoài vợ. Mỗi lần như vậy con hãy nhớ rằng: Người bồ hiện tại yêu con mười phần, người vợ hiện tại cũng từng yêu con mười phần như thế. Nhưng khi bước vào hôn nhân, vai trò của phụ nữ càng trở nên phức tạp, ngoài tình yêu họ còn có cả trách nhiệm. 
Vì vậy khi đã kết hôn, người ta sẽ không thể yêu con mười phần được nữa. Họ phải dành một phần trong số đó để yêu bố mẹ chồng, rồi lại một phần để yêu bố mẹ họ, còn thêm một phần nữa cho con cái. Và như thế, mười phần tình yêu khi bước qua hôn nhân chỉ còn lại bảy phần. Bằng cách này hay cách khác, 3 phần con mất đi từ người vợ sẽ được nhận lại gấp đôi từ gia đình và con cái của con.
Và một lý do nữa, người bồ sẽ chỉ đem lại cho con hạnh phúc nhất thời, còn người vợ sẽ đem lại cho con hạnh phúc bền vững. Thật tuyệt vời phải không? 
Bố bảo thời kỳ mang thai là khó khăn nhất đối với phụ nữ, là bởi vì muốn có được thiên thần thì phải qua thời gian khổ cực. Chính vợ con là người đã gánh vác sự khổ cực đó để đem lại niềm vui cho cả nhà. Thế nên đừng thở dài khi thấy vợ con chẳng còn được vẻ đẹp thời thiếu nữ, hay cũng đừng tức giận khi con nằm cạnh vợ mà chẳng thể làm gì. Hãy cùng cô ấy cảm nhận niềm vui của những ông bố bà mẹ, chắc sẽ thú vị lắm.
Bố bảo chuyện mẹ chồng nàng dâu là chuyện muôn thuở, giống như bệnh tiền mãn kinh vậy. Thế nên con hãy là sợi dây kết nối họ, hai người phụ nữ yêu con nhất trên đời. Đừng để mẹ cảm thấy bà đã mất con trai, và vợ con cảm thấy chồng mình là người nhu nhược. Như thế mới là đàn ông chân chính. 
Bố bảo rằng đừng tưởng người mẹ mới dạy dỗ được con. Theo nghiên cứu của các nhà khoa học, trong thời gian người mẹ mang thai thì người cha mới là người ảnh hưởng lớn nhất đến tình cảm và sự phát triển của trẻ. Con có thể không là người bố tuyệt vời nhất thế giới, nhưng hãy là người bố tuyệt vời nhất trong lòng những đứa con. 
Bố bảo "Phụ nữ là để yêu, không phải để hiểu”, nhưng nếu không hiểu, thì con chẳng thế yêu. Hãy hiểu họ bằng chính trái tim mộc mạc của con.

Bố bảo "quá khứ là thứ đã qua, hiện tại mới là cuộc sống”. Nếu quá khứ của vợ con có lỗi lầm, đừng chấp nhặt, cũng đừng đay nghiến vì đồng ý lấy vợ là con đã chấp nhận tất cả những gì thuộc về cô ấy. Hãy khoan dung và độ lượng. Dù không nói ra nhưng chắc chắn cô ấy sẽ yêu con đến suốt cuộc đời, một tình yêu bao gồm cả sự biết ơn và tôn trọng.

Và cuối cùng bố bảo, cuộc sống luôn thay đổi, hãy biết trân trọng từng ngày".
Sau một thời gian ngắn xuất hiện trên một Fanpage Facebook, lời bố dặn con trước khi lấy vợ đã nhận được hàng nghìn lượt "like", hàng trăm chia sẻ và rất nhiều bình luận. "Hay quá", "Rất ý nghĩa", "Người bố đó hẳn là một người chồng rất tuyệt vời"... là những nhận xét của rất nhiều thành viên mạng xã hội dành cho bài viết này.
Một số thành viên thì chia sẻ rằng họ sẽ đọc, suy ngẫm và coi đó là một hành trang của phương châm sống. Trong khi đó, một số bạn khác thì cho rằng: lời khuyên rất hay nhưng chắc gì nhiều nam giới làm được tất cả những điều đó. Mong những người đàn ông đang và sẽ làm chồng suy nghĩ được như ông bố này để có nhiều hơn gia đình hạnh phúc.

Thứ Năm, 31 tháng 1, 2013

NHỮNG CÂU NÓI DÂN GIAN CÓ HÌNH TƯỢNG CON RẮN



Nhân dịp năm “con rắn quí”, MN lượm lặt, gom góp những câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ dân gian có sử dụng hình tượng con rắn để bạn đọc thông qua chuyện rắn mà ngẫm nghĩ thêm về chuyện nước, chuyện đời, chuyện người…
Nhân dân ta không chỉ quan sát loài rắn để rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc chung sống với con vật dữ dằn, bí hiểm này mà còn nêu lên những bài học ứng xử, những lời khuyên, những tiếng cười… về nhiều vấn đề trong cuộc sống.
Nếu bạn đọc còn tìm được câu nào hay, mời tham gia bổ sung ở phần cảm nhận cuối bài viết.
***
1. “Lươn nạp mình cho rắn”: Xuất phát từ hiện tượng thực cứ đến ngày “mồng năm tháng năm” hàng năm, lươn dù lớn dù bé cứ gặp rắn là mềm nhũn ra không bò được nên bị rắn bắt. Có khi rắn nhỏ mà lươn thì lớn, rắn nuốt không vô, nhả ra cũng không được, rồi cả hai cùng chết. Dân gian dùng hiện tượng này để ám chỉ những kẻ không hiểu sao lại tự dưng đem nạp mình cho kẻ khác vô điều kiện ! Đành rằng rắn có sức mạnh của rắn, lươn có phận của lươn - “núi sông bờ cõi đã chia…” sao lươn lại làm chuyện “nạp mình cho rắn” ! Thật là “hàng thần lơ láo phận mình ra chi” (Nguyễn Du) !
2. “Theo đóm ăn tàn”: Nghĩa đen của nó có lẽ xuất phát từ thói quen bản năng của loại rắn mái gầm: loài rắn nầy ngủ ngày, ăn đêm, đặc biệt thích nhấm nháp chất tro tàn, nhất là tro tranh. Các nhà khoa học giải thích là rắn thích theo đốm lửa, tầm nhiệt để săn mồi (chuột, nhái, cóc …). Nghĩa bóng của thành ngữ này nói về kẻ dựa hơi, cơ hội để hưởng lợi. Trong xã hội có lắm kẻ cơ hội ăn theo, thực ra thì bọn họ chả có tài cán gì, chỉ là một lũ “vẽ rồng vẽ rắn” nhưng nhờ có được chút quyền lực mà tha hồ thu vén quyền lợi cho cá nhân hoặc cho lợi ích nhóm

Thứ Hai, 28 tháng 1, 2013

CÂU HÒ BẢ TRẠO


            Huỳnh Văn  Cát 

Nhà giáo Huỳnh Văn Cát và Nhà thơ Nguyễn Giúp

Hát “bả trạo” Quảng Nam còn có tên hát xạo. Hát xạo để vui cửa vui  nhà, để nụ  cười sãng khoái nở trên đôi môi thơm nồng mùi thuốc lá gò nổi nguyên  trinh.
Hát  “ba trạo” có  nhiều câu  rất tục ( thông  tục) và  cũng  có  nhiều  câu  rất thanh.
Cái không gian thơ mộng dưới ánh trăng vàng có lũy  tre xanh của ngày xa xưa  ấy đã và đang đi vào dĩ vãng! Nhưng cái hồn của của  nghệ sĩ dân gian vẫn rạng  ngời thể phách tinh anh qua câu hò lắng đọng.
Trăng tròn vàng vạnh rải dát vàng huyền ảo lung linh. Trai gái công khai ghẹo nhau. Cô nàng tuổi tròn đôi tám, nước  da bồ  quân, môi đỏ thơm nồng trầu xanh - cau tươi - vôi  trắng, mắt long lanh nhìn chàng trai đang say  mê tài sắc của  nàng, cất giọng bông  đùa:
Chàng ra  làm  chi  mà  mỗi  tháng  mỗi  ra
Chàng  ra  một  bận thì  thiếp khổ  ba  bốn  ngày
Nhanh như tia chớp, chàng:
Anh ở  trong  nớ  anh  mới ra
Cha mẹ  em có nhắn biểu  ông bà em  vô chơi.
Thâm thúy sao! ở trong  cái nớ có cha mẹ em chớ  đâu phải gì riêng anh?
Đương nhiên là vậy nhưng cô gái má lúm đồng tiền  lúng liếng vẫn tỉnh  bơ:
Hai bên thì  cỏ  mọc  rậm rì
Ở  giữa có  cái  khe nước  chảy  hỏi anh  đi  đừơng  nào?
Tiếng vỗ tay vang dội - tiếng cười  giòn tan - tiếng trầm trồ râm ran ồn lên sôi  động cả góc trời, rồi bỗng nhiên chùng xuống, rồi đột ngột lặng im để lắng nghe câu đối  lại:
Hai  tay anh  ôm chặt  hai  quả  đào
Dưới khe nước chảy, anh cắm sào  anh  nhảy  qua.
Dùng hình ảnh thiên nhiên thanh thoát để diễn đạt cái thanh cao thông  tục của đời thường sao mà  tài hoa đến  thế!
Ông bà ta, thiếu chữ - thừa  thông  minh, không biết phép tu  từ  ẩn dụ là  gì, không học trường viết văn nào hết, mà xuất khẩu  thành  thơ trong mọi tình huống.
Phải chăng ngôn từ chỉ là cái ngọn, cảm xúc mới là cái gốc? Gốc cảm xúc ăn sâu vào đất chất liệu trữ tình nên ngọn ngôn từ sum sê xanh tươi đỏ hồng hoa lá sừng sững trên sườn non  cao.
Đúng! Văn học dân gian là  nguồn  sữa  mẹ.


(Giao Thủy, những ngày giáp Tết Quí Tị)