Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014

KHÔNG PHẢI LẦN ĐẦU

Máy bay cất cánh. Thành phố Đà Nẳng xa dần. Chỉ hơn một tiếng đồng hồ nữa máy bay sẽ đáp xuống phi trường Tân Sơn Nhất. Rồi Điền sẽ đi về miền tây, cũng sẽ quay phim, chụp ảnh, viết bài...Không phải lần đầu, nhưng sao lần này Điền nghe nôn nao chi lạ, lòng ngổn ngang cảm xúc, không rõ ràng. Bồi hồi. Lâng lâng.
Điền tư lự nhìn bầu trời qua ô cửa kính. Những đám mây ngoài kia bị sức mạnh của gió làm cho chao đảo rồi tan ra thành nhiều mảnh nhỏ, cứ tưởng rằng chúng sẽ tan biến vào cõi hư vô. Nhưng không. Chỉ trong chốc lát chúng lại về với nhau. Mặc cho gió gầm gừ xô đẩy, chúng vẫn không chịu rời nhau. Có lẽ sự sum họp sau lần chia ly làm cho chúng càng gắn bó nhau hơn, chúng quấn quít bên nhau, bồng bềnh trôi trong một thế giới bao la vô tận. “Phải chăng mình cũng như những đám mây kia, cô đơn lạc lõng, tìm kiếm một phần đời của mình ở tận góc bể chân trời?”
Một cô tiếp viên đến cùng với một quầy cà phê lưu động, cô ta hỏi Điền có dùng cà phê không.
“Cảm ơn,” Điền nói “tôi không dùng!”
“Khi nào ông cần thì hãy nói với tôi nhé!”
“Vâng, cảm ơn cô!”
Cô ta mỉm cười và lần lượt đi đến những hàng ghế khác. Cô ta còn rất trẻ, miệng cười xinh xắn. Nụ cười của cô ta làm Điền nhớ tới một người.
Lúc ấy là một chiều. Mưa tuôn xuống rất mạnh, sau đó nhẹ dần, bong bóng phập phồng trôi nổi trước thềm nhà. Điền thở dài rồi bật máy tính. Có nhiều thư gửi đến, anh rà chuột để xóa bớt những tin nhắn vô bổ. Nhưng tay anh kịp dừng lại trên phím “delete” khi bắt gặp một bức ảnh. Cô gái trong ảnh không đẹp lộng lẫy, nhưng nụ cười của cô ta như có một ma lực làm anh ngây ngất. Anh ngắm nhìn cô gái kỹ hơn. Cô ta có mái tóc đen nâu, dợn sóng, buông dài phủ một bờ vai; mắt sáng; cái mũi thẳng, gương mặt phúc hậu “cô gái này có một vẻ đẹp đôn hậu,” Điền thầm nghĩ và trong lòng có thiện cảm với cô gái.
Bên cạnh bức ảnh có dòng chữ “Thanh, Hậu Giang, 43 tuổi”. Điền nhìn cô gái một lúc, “trông cô ấy trẻ hơn nhiều so với tuổi,” anh hơi ngờ vực nhấp vào “profile” của cô gái để xem thông tin cá nhân. Cô ta đã có gia đình. “Có nên kết bạn với người có gia đình không nhỉ?” Điền hơi lưỡng lự, sự ngưỡng mộ của anh trước một bức ảnh đẹp của người khác phái là sự bình thường, vì vậy cũng không cần quan tâm đến nhân thân của cô ấy làm chi. Anh thả lỏng và đọc những dòng chia sẻ của cô gái “Đừng để trong cuộc sống có nhiều nuối tiếc, vì đã không nói những lời muốn nói, đã không làm những điều phải làm cho người thân, cho bạn bè, cho những người thương yêu nhất”. Lời lẻ của cô gái như một lời nhắn nhủ tâm tình, Điền xúc động và nghĩ “Một người có trái tim yêu thương nồng nàn mới nói được những lời nhiều cảm xúc như vậy”. Anh quyết định gửi cho cô gái một tin nhắn.
 “Chào em, anh tên là Điền, Trần Quý Điền, ở Đà Nẳng, rất vui nếu được nói chuyện với người em gái Hậu Giang”. Vài phút sau có tín hiệu “prely”.
“Chào anh, em tên Vy Thanh, rất hân hạnh được quen biết anh.”
“Rất vui vì em đã trả lời.”
“Em cũng rất vui vì anh đã chịu nói chuyện với em.”
“Tên của em nghe rất hay, chắc có một ý nghĩa rất đặc biệt, phải không?”
“Tên của em chỉ đơn giản là tên của một địa danh, Vy Thanh tức là Vị Thanh, nơi sinh của em”
“Thì ra là vậy, đơn giản mà rất có ý nghĩa, anh thích cái tên này.”
“Cảm ơn anh, tên của anh rất là quý giá, vì anh là một loại đất quý hiếm phải không?”
“Em làm anh bật cười rồi đây này,” Điền cười “có lẽ, thời xưa cha mẹ anh nghèo không có đất đai để canh tác, làm tá điền cho bọn địa chủ bóc lột, nên họ nhắc nhở anh phải ghi nhớ đất là vốn quý của con người, đất nuôi sự sống sinh sôi, có đất là có nhà, không đất là không nhà, không sự sống.”
“Thì ra tên của anh ẩn chứa cả một câu chuyện mang đậm tính nhân văn, đất nước của mình ngày nay đã phát triển, cha mẹ anh chắc cũng vui khi thấy con trai của mình bây giờ vừa thông minh, lại vừa thành đạt nữa”
“Em lại quá khách sáo rồi, có nghề nghiệp đàng hoàng thì cũng có thể nói là có một chút thành đạt, nhưng anh không dám nhận mình là người thông minh đâu nhé.”
“Em đâu có khách sáo. Anh cũng biết Đà Nẳng là thành phố đầu tiên của nước ta được tập đoàn công nghệ thông tin IBM tài trợ chương trình xây dựng thành phố thông minh hơn. Muốn có thành phố thông minh thì phải có con người thông minh, anh cũng là một trong số đó, đúng không?”
“Em đối đáp lanh lẹ quá, anh chịu thua rồi, có lẽ em mới là người thông minh đó.”
“Em nói thiệt tình mà.”
“Anh cũng nói thiệt tình, đây là lần đầu tiên anh nói chuyện với con gái trên mục kết bạn, cho nên anh rất vụng về, mong em đừng có cười anh nhé!”
“Thật vậy sao? Người nhà quê như em mà được anh quan tâm nói chuyện đã là may mắn rồi, càng may mắn hơn khi nghe anh nói em là người đầu tiên mà anh quen biết trên mạng. Cảm ơn anh!”
“Những gì anh nói là hoàn toàn sự thật. Nếu em là người nhà quê thì anh cũng là anh hai lúa, kể ra chúng ta cũng hợp nhau đấy!”
“Anh nói chuyện nghe cũng đáo để lắm, anh hai lúa à!”
“Nghe em nói về thành phố thông minh, anh càng yêu quê hương mình hơn, nhưng dự án còn trong giai đoạn bắt đầu em à!”
“Sự bắt đầu cũng thành công ở giai đoạn một rồi, em tin sẽ có một thành phố thông minh trong tương lai không xa lắm.”
“Anh cũng tin như vậy. Anh đoán là em đã đến Đà Nẳng rồi, phải không?”
 “Vâng, em đến đó một lần, em vẫn mong được trở lại bãi biển Mỹ Khê lộng lẫy và dòng sông Hàn đầy thơ mộng.”
“Lời em nói giàu chất thơ, có phải em là nhà thơ?”
“Dạ không, chỉ là cảm nhận của em khi đến Đà Nẳng mà thôi.”
“Anh cũng từng đến miền tây, nhưng chưa có dịp đến Vị Thanh. Anh nghe nói ở đó có kinh xáng Xà No, con đường lúa gạo miền Hậu Giang.”
“Dạ phải, kinh xáng là niềm tự hào của quê em từ lâu đời, nhưng Tỉnh Hậu Giang thì chỉ mới được tách ra từ thành phố Cần Thơ năm 2004. Khi nào anh đến quê em, em sẽ mời anh thưởng thức cháo lòng Cái Tắc, cá thác lác cườm bảy món; em sẽ đưa anh đi xem các vườn cây ăn quả, đặc biệt là cây Khóm Cầu Đúc, cây bưởi Năm Roi trà ở Phú Hữu...đặc sản của quê em.”
“Nghe em nói là anh muốn bay vào trong đó ngay, được một cô gái dễ thương như em đón tiếp thì còn gì bằng.”
“Anh vui tính ghê vậy đó!”
“Em dễ thương thật mà.”
“Cảm ơn anh!”
“Khi nào em trở lại Đà Nẳng, anh sẵn sàng làm người hướng dẫn du lịch cho em.”
“Dạ, em cũng mong có ngày đó.”
Lần đầu tiên trò chuyện với Thanh, Điền say sưa đến mức không nhận ra là trời đã dứt cơn mưa và bỏ lở thời gian đi bộ theo thói quen hàng ngày. Điền rất thích miền tây sông nước hiền hòa, nay lại được quen biết một cô gái Hậu Giang, trong lòng cảm thấy xôn xao, như thời trai trẻ lần đầu phải lòng một người con gái.
Kể từ đó, Điền với Thanh trở thành đôi bạn trò chuyện trên mạng. Điền không thể ngờ một người bảo thủ như anh lại có ngày kết bạn với một cô gái trên “net”. Anh không ngần ngại chia sẻ với cô ấy về nhân sinh quan, về sở thích văn chương, về tác phẩm Kiều kinh điển của Nguyễn Du. Thậm chí những suy nghĩ về những vấn đề khó khăn phức tạp trong cuộc sống đời thường. Mỗi lần trò chuyện với Thanh, anh thấy trong lòng nhẹ nhàng, thư thái. Có lẽ, anh đã tìm được người tri âm tri kỷ.
Khó mà diễn tả cảm giác thiếu vắng, buồn tẻ những lúc không nói chuyện với Thanh, anh có cảm giác như mình bị “nghiện” nói chuyện với cô ấy. Những lúc cô ấy không “online”, anh vào “profile” để nhìn bức ảnh của cô ấy cho đở nhớ. Tình cảm trong Điền cứ âm thầm nẩy nở. Cho đến một đêm, anh quay quắt, bồn chồn không ngủ được, hình ảnh của Thanh cứ hiển hiện trước mắt anh. Vừa mờ sáng, anh  đã dậy để viết vội mấy câu thơ:

Sớm mai dậy nhìn cây nhớ gió,  
Làn sương mơ xa lắc cuối chân trời
Em hư thực thực hư huyền  ảo
Chút tình ta xin gởi áng mây trôi 
Viết xong, anh không gửi cho Thanh, sợ đường đột quá. Nổi nhớ nhung ngày càng nhiều thêm:

Tự nhiên thấy nhớ ai nhiều
Dẫu rằng biết rứa là điều không nên
Dặn lòng đừng nhớ cố quên
Mà sao ai cứ hiện lên rõ dần

Cảnh vật buồn mỗi độ đông sang
Gió heo hắt se lòng vũ trụ
Mưa rắc hạt tái tê tình cô phụ
Nhạn đêm buồn lẻ bạn kêu sương

Mưa đông dai dẳng sụt sùi
Lạnh lùng rét mướt thương người như thân
Em tôi ẩn hiện xa gần
Mờ mờ ảo ảo Tần vân phiêu bồng

Ta chỉ biết trong men tình túy lúy
Rượu cùng anh độc ẩm ngâm nga
Câu tứ tuyệt Nàng Kiều yêu Kim Trọng
Lời đinh ninh hai miệng dưới trăng ngà

Mối quan hệ “bạn bè” với Thanh vẫn bình thản như mặt hồ không gợn sóng. Thanh vẫn chân thành trong chừng mực của tình bạn đúng nghĩa. Nhưng hình ảnh của Thanh ngày càng in sâu vào tâm trí của Điền.
Điền đã mơ cùng Thanh đi dạo trên một đồng cỏ còn đọng sương mai. Những tia nắng sớm lung linh chen qua những kẽ lá, tiếng chim hót ríu ra ríu rít. Đám bồ câu đang tung tăn nhảy nhót tìm mồi vụt bay lên khi lá rừng lạo xạo dưới chân. Hai người không nói gì với nhau, thỉnh thoảng nhìn bầu trời thăm thẳm, vài đám mây vắt vẻo trên những ngọn cây cao tít tắp. Một làn gió phớt ngang làm lay động mái tóc bồng bềnh của Thanh, cô nghiêng người cho tóc rủ xuống, Điền dừng lại, đưa tay vén những lọn tóc lòa xòa trên gương mặt cô. Trong giây phút đó, anh nhìn sâu vào đôi mắt của Thanh. Đôi mắt đen nâu chứa đựng cả một bầu trời, anh cũng thấy hình ảnh của mình ở trong đó, hay nói đúng hơn, anh đã bị hút vào trong đó tự lúc nào.
Mắt Thanh không chớp, cô đăm đắm nhìn Điền, anh chạm tay lên má cô, cô áp mặt vào bàn tay to và ấm áp của anh, anh từ từ cuối xuống. Bổng đâu xuất hiện hai người đàn ông lực lưỡng, một người xông đến và bằng một động tác nhanh lẹ đã quật anh té nhào xuống đất, còn người kia cố bắt Thanh đi cho bằng được, cô vùng vẫy thét lên “Không! Không! Thả tôi ra...”. Điền lao về phía Thanh, nhưng phút chốc tất cả đều biến mất, chỉ còn văng vẳng tiếng kêu la thảm thiết “Điền ơi, cứu em....”. Điền tỉnh giấc, trong cơn bàng hoàng thảng thốt. Dẫu biết là giấc mơ, nhưng kể từ ngày đó, anh luôn giữ trong lòng ý nghĩ phải đi tìm Thanh.
“Quý khách chú ý tháo dây an toàn và kiểm tra hành lý,...hẹn gặp lại...” Tiếng nói phát ra từ hệ thống loa. Thế là đến sân bay Tân Sơn Nhất.
“Anh Điền!” Thức gọi Điền khi thấy anh bước ra.
Đã hai năm mới gặp lại, Thức vẫn có dáng vẻ của một người trí thức, nghiêm túc trong chiếc áo sơ mi trắng dài tay, mái tóc chải ngược, kính gọng vàng trông rất chững chạc. Thức ở cùng làng và học sau Điền hai năm, nên dẫu là bạn đồng hương, Thức vẫn giữ xưng hô gọi Điền là anh. Điền bắt tay Thức.
“Cảm ơn ông đã đón tôi.”
“Mừng là anh đã đến, anh có ưng đi taxi không?”
“Tôi lại tưởng là ông đi honda!”
“Thấy trời u ám quá, nên đi taxi cho tiện, không thì mưa ướt cả người.”
Hai người lên chiếc taxi Vinasun. Đúng lúc trời bắt đầu rắc hạt. Thức vẫn luôn chu đáo như vậy. Điền hỏi Thức, từ chỗ ni đi Hậu Giang bao nhiêu cây số? Khoảng 250. Anh định đến đó à? Ừ! Anh về đấy để làm gì? Làm một phóng sự, nhân thể tìm một người. Ai vậy? Một người bạn. Đồng hương? Không, người mới quen. Con gái hả? Phải. Cô ta thế nào? Trông cũng được. Làm sao mà anh quen người ở tít dưới Hậu Giang vậy? Trên mạng! Coi chừng bị gạt đó, người tốt thì ít mà người xấu thì nhiều. Tốt xấu gì thì cũng chỉ quen có một cô chứ mấy. Chỉ quen có một cô mà đã hẹn hò rồi, anh cũng đáo để thật. Cô ta không hẹn chi với tôi. Tự tôi muốn tìm hiểu cô ta. Thức lắc đầu, anh nghĩ là Điền đang dấn thân vào một cuộc phiêu lưu nguy hiểm.
Nhà của Thức ở Quận Tân Kỳ. Sau khi ly dị anh vẫn sống độc thân. Đứa con trai duy nhất của Thức hiện đang học Đại học và ở khu ký túc xá. Điền thấy thương cho cảnh đàn ông cô đơn của bạn. Mỗi khi có dịp vào Sài gòn anh lại đến ở nhà của Thức. Ngôi nhà này đã trở nên quen thuộc với anh. Buổi tối, Điền ngồi uống trà, nói chuyện với Thức.
“Anh suy nghĩ kỹ chưa?” - Thức hỏi Điền.
“Ông muốn tôi suy nghĩ chuyện gì?”
“Không hẹn hò, cớ chi lại đi tìm cô ta?”
“Đừng nghĩ nhiều quá. Lần ni tôi đi ngoài việc tìm hiểu làm một phóng sự về kinh xáng Xà No nổi tiếng ở Hậu Giang, nhân thể tìm hiểu một người bạn mới quen, nếu gặp được cô ấy thăm hỏi để hiểu biết nhau thêm, còn như không gặp thì cũng là vì công việc.
Thức lắc đầu. Anh biết tính Điền, khi quyết định làm chuyện chi thì khó mà lay chuyển. Anh rót trà cho Điền rồi lựa lời để hỏi han.
“Cô ấy tên chi và làm việc ở đâu?”
“Cô ấy tên là Vy Thanh, làm việc cho một Công ty tổ chức sự kiện”
“Độc thân hay là....”
“Không độc thân!”
“Tôi hiểu. Anh với cô ta phát triển đến mức nào rồi?”
“Chỉ là bạn!”
“Tôi nghĩ anh không xem cô ta chỉ là bạn bình thường, nếu không thì đâu có vượt đường xa để tìm cô ta?”
“Nói thật lòng là tôi rất thích cô ấy và rất muốn được gặp cô ấy.”
“Điều chi làm cho anh thích cô ấy?”
Điền chậm rãi hốp từng ngụm trà, đôi mắt trầm tư. Thức rót thêm trà vào tách của Điền, im lặng.
“Đầu tiên, bức ảnh cô ấy xuất hiện là tôi thích ngay,” Điền nói “tiếp theo là cách nói chuyện của cô ấy, giản dị, thông minh nhưng lại rất khiêm tốn. Dần dần tôi nảy sinh tình cảm với cô ấy lúc nào không hay. Tất cả chỉ là tự nhiên.”
Thức cảm nhận sự chân thật trong lời nói của Điền, Điền là người nghiêm túc, không dễ gì nảy sinh tình cảm với người khác, nhưng nay lại có cảm tình với một người con gái xa lạ, chắc cô gái đó cũng có cái gì đó đặc biệt, tuy nhiên cần phải giúp anh ấy tỉnh táo hơn, đừng quá “say sắc” mà mất thời gian vô ích. Thức nói:
“Hình ảnh, tên tuổi, nghề nghiệp...cũng có thể là giả. Xã hội bây giờ điều chi cũng có thể xảy ra. Rất nhiều vụ án lừa tình gạt tiền bắt nguồn từ mối quan hệ trên “net”, cẩn thận vẫn tốt hơn”
“Kha... kha...” - Điền cười phá lên:
“Ông bạn ơi, tôi không sợ đâu. Nếu được cô ấy lừa tình thì còn chi bằng. Còn gạt tiền hỉ? Tôi càng không sợ. Hành trang tôi mang theo chỉ có một máy quay phim cũ kỷ. Nếu tên tuổi và nghề nghiệp của cô ta không đúng...thì cũng chẳng sao. Có thể cô ta cũng đề phòng những kẻ xấu. Nếu không gặp cô ấy, thì tôi cũng thu được một số hình ảnh miền tây để làm tư liệu. Tóm lại là không có chi để mất cả. Tôi là đàn ông ngang dọc khắp nơi, còn sợ lẻ chi?”
Lời của Điền tuy có chút pha trò cho vui, nhưng cũng có cái lý của nó, Thức im lặng một lúc, tiếp:
“Chờ đã! Anh nói cô ta làm ở Công ty tổ chức sư kiện hỉ?
“Phải!”
“Công ty đó tên gì?”
“Cẩm Giang”
“Để tôi lên mạng tìm xem nào”.
Thức mở máy, vào google, anh gõ “Công ty Cẩm Giang”. Một số Công ty cùng tên xuất hiện. Anh kéo chuột. “Đây rồi! Ở Hậu Giang, có một Công ty tổ chức sự kiện tên là Cẩm Giang”. Mắt Điền sáng lên khi thấy tên Công ty đúng như Thanh đã nói. Thức tiếp tục vào “website” của Công ty. “Đây này, Giám đốc Công ty là Bà Nguyễn Thị Cẩm, một phụ nữ trung niên nhưng rất sang trọng”. Vài bức ảnh chụp tập thể giới thiệu đội ngũ nhân viên của Công ty. Điền nhận ra Thanh trong số đó, cô mặc áo dài màu xanh biển, dáng người thon thả, sang trọng, đứng cạnh bà Cẩm. Anh thở phào nhẹ nhỏm, vì cô ấy không hề “giả” như sự lo lắng của Thức. Điền chỉ tay vào hình của Thanh “Cô ấy đây này!”.
“Cô ta trông rất xinh!”
“Ông yên tâm chưa hỉ?”
“Tôi phục anh sát đất. Răng mà quen một cô gái miền tây xinh thế. Tiếc là cô ta đã có chồng.”
“Không có chi phải tiếc, vì tôi cũng không có ý định tìm thêm vợ, hay nhân tình nhân ngãi chi cả, làm bạn là quý rồi.”
“Ông có vẻ cởi mở hơn xưa đấy, không còn là ông cụ non nữa”
“Như thế cũng tốt đấy chứ, còn hơn sống khép kín mãi.”.
“Tán thành!”
Thức tắt máy. Trở lại bàn, tiếp tục uống trà. Bây giờ thì anh không phản đối Điền đi tìm cô gái đó nữa.
Đêm về, Điền không sao ngủ được, miên man suy nghĩ. Giờ này, Quế Anh vợ của anh đã ngủ chưa, hay vẫn nghiên cứu một hợp đồng nào đó. Quế Anh là một nữ doanh nhân, luôn bận bịu với công việc kinh doanh. Thường xuyên về nhà khuya lắc khuya lơ sau những buổi tiệc tùng cùng đối tác. Cô ấy cũng thường mang hồ sơ vào phòng ngủ, thậm chí còn lôi cái “laptop” quỹ quái lên giường, anh giục đi ngũ thì Quế Anh lại nói “Chờ em một chút” hoặc “Em sắp xong rồi” hay là “Em phải chuẩn bị cho cuộc họp ngày mai”, ... Thế là anh chờ....chờ đến khi ngủ quên không hay. Nửa đêm tỉnh giấc, Quế Anh bên cạnh nhưng đã ngủ say, anh thấy cô đơn ngay trên chiếc giường của mình. Về sau, anh không chờ đợi nữa. Anh sang phòng khách, xem tivi chán rồi ngủ luôn tới sáng.
Điền hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật, quay phim tư liệu, chụp ảnh, viết báo. Anh không không giúp gì cho vợ trong việc kinh doanh. Cô ấy cũng không hòa nhập với thế giới nghệ thuật của anh. Mỗi người một khoảng trời riêng. Chỉ khi hai người cùng đi du lịch với nhau, lúc đó cả hai mới thực sự là một cặp vợ chồng đúng nghĩa. Đã lâu rồi, anh và vợ không có cơ hội đi du lịch. Đứa con gái theo chồng sang Mỹ, nó muốn bảo lãnh gia đình sang đó. Quế Anh nhiều lần đề cặp chuyện này. Anh không muốn đi, nhưng sợ làm vợ con thất vọng, vẫn chưa có câu trả lời rõ ràng “Đi Hậu Giang về mình sẽ bàn với Quế Anh chuyện này, nếu cô ấy muốn đi thì cho cô ấy sang bên đó trước, còn mình sẽ sắp xếp đi sau”.
Trong những lần “chat” với Thanh anh tìm thấy sự ấm áp và ngọt ngào. Có lẻ khi nói chuyện với cô ấy, Điền cảm thấy thoải mái chia sẻ niềm say mê nghệ thuật của mình. Cô ấy có kiến thức và có nhận xét tinh tế. Hai người nói chuyện rất ăn ý nhau. Để rồi không biết tự lúc nào mà anh đã phải lòng cô ấy. Hình bóng cô ấy len lõi vào tâm hồn anh một cách âm thầm và chiếm vị trí rất quan trọng trong lòng anh. Đến mức anh muốn gặp cô ấy để mặt tường tận mặt, thỏa nổi lòng mong nhớ.
Nếu gặp cô ấy mình không biết sẽ nói gì nữa “Đi làm phim tư liệu về kinh xáng Xà No, tiện thể ghé thăm bạn” lý do này nghe được chứ hỉ? Nhưng liệu sự xuất hiện bất ngờ của mình có làm cô ấy khó xử? Cô ấy có sẵn sàng đón tiếp mình không? Hoặc là cô ấy đi đâu đó không có ở Công ty? Mình có nên điện thoại báo trước với cô ta? Bao nhiêu dấu hỏi trong đầu, làm Điền lúng túng. Biết đấu “Hữu duyên thiên lý năng tương ngộ”.
Điền chợt nhận ra một điều hết sức bẽ bàng. Nghĩ đến Quế Anh, là nghĩ đến một người vợ tuy gần mà lại rất xa, bao nhiêu năm chung sống giờ chỉ còn đọng lại tình nghĩa và trách nhiệm gia đình. Nghĩ đến Thanh, tuy ở xa nhưng lại rất gần, mới quen mà tưởng như đã thân nhau từ lâu, trong lòng nhiều thương nhớ. Anh thở dài, hai mắt nhắm nghiền trong cõi mông lung.
Điền và Thức khởi hành từ sáng sớm, trên một chiếc xe con bốn chỗ, màu đen. Trời quá trưa thì đến Thị trấn Bình Minh. Xe chạy dưới đường dẫn đến cầu Cần Thơ. Điền đã đến đây trong dịp khánh thành chiếc cầu dây đẹp nhất Đông Nam Á này vào năm 2010. Điền nhìn phía bên kia sông, nói nhạc sỹ Lâm Hoàng có câu hát là:
“Ai về miệt dưới Hậu Giang.
Cho tôi nhắn gửi đôi hàng ước mơ.
Ninh Kiều em gái Cần Thơ.
Bao năm anh vẫn thương chờ đợi mong”

Xe đang leo lên độ cao. Thức nói:
“Người đang ở Cần Thơ mà hồn để ở Hậu Giang hỉ?”
Bấy giờ thì xe đang nhẹ nhàng lướt qua đoạn cuối của cầu Cần Thơ. Lần này về miền tây, không chỉ để tác nghiệp, mà anh đi tìm một hình ảnh trong mơ, không biết gặp Thanh sẽ như thế nào? Lòng Điền xúc động bồi hồi. Anh quyết định gọi cho Thanh, để thăm dò ý tứ của cô. Thanh tỏ ra vui mừng vì chuyến viếng thăm bất ngờ của Điền. Cô nói sẽ đặt phòng nghỉ cho Điền và mời Điền dùng cơm tối. Điền rất vui vì mọi việc diễn ra quá đơn giản không phức tạp như anh nghĩ. Chừ anh chỉ mong sao mau chóng đến Hậu Giang.
“Hai anh muốn ăn cơm trưa ở Cần Thơ hay Cái Răng?” - Anh tài xế hỏi.
Thức ngồi ghế trước quay xuống Điền. “Anh có ưng ăn cơm ở Cái Răng không hỉ?”.
Điền đang phân vân, anh chợt nhớ có lần Thanh nói sẽ mời anh cháo lòng Cái Tắc.
“Cái Tắc có xa không?”
“Khoảng 15 cây số nữa” - Tài xế nói.
“Anh muốn ăn cơm ở Cái Tắc hỉ?”. - Thức hỏi Điền.
“Nghe nói cháo lòng ở đó ngon lắm, đến đó ăn thử đi”
“Anh cũng rành đặc sản Hậu Giang quá hen”. - Tài xế nói.
Theo Quốc lộ 1A, từ Thành phố Cần thơ đi về phía nam chừng 15 cây số, đến ngã ba Cái Tắc rẽ phải là vào địa phận tỉnh Hậu Giang.
Chúng tôi vào một quán cháo ở chợ Cái Tắc. Không bao lâu, ba tô cháo lòng ngun ngút khói đặt lên bàn. Nhìn tô cháo đã thấy “thèm”, đầy đủ tim, gan, phèo, lưỡi, cật, thịt...miếng nào miếng nấy xắt thật to và dầy, “dân miền tây hào phóng thật”. Nước cháo nấu lỏng lỏng không đặc lắm, mùi cháo nghe rất thơm. Đĩa rau ghém rất nhiều loại như rau đắng, rau má, bắp chuối, giá, hẹ, ... Chén nước mắm nhỉ đặc sền sệt thả vài trái ớt hiểm đỏ roi rói. Anh tài xế có vẻ “sành ăn” vắt thêm miếng chanh vào nước mắm, xé vài miếng bánh củ cải vào tô cháo. Điền và Thức làm theo. Ở bàn kế bên, có người ăn cháo cùng với bún trắng.
Điền húp muỗng cháo, nhai mấy miếng lòng dai dai giòn giòn, chấm với nước mắm mặn mặn, chua chua, cay cay kèm theo hương vị của các loại rau ghém mới thưởng thức được hết hương vị đậm đà của tô cháo lòng Cái Tắc. “Chỉ ăn có một tô mà thấy hả hê trong dạ,” Điền nói. Thức gật đầu “Quả là ngon thật”. Anh tài xế thì nói “Quá đã!”. Cả ba người đều thấy hài lòng. Và họ lại tiếp tục cuộc hành trình.

            Từ Cái Tắc, chúng tôi đi theo tỉnh lộ 61, qua huyện Long Mỹ, Vị Thủy rồi đến Thành phố Vị Thanh. Mặt trời bắt đầu dịu cơn nóng.

 “Vị Thanh bây giờ đẹp hơn xưa nhiều” - Anh tài xế nói.

“Tất nhiên, Vị Thanh phải được thay đổi xứng đáng với vị trí mới là một thành phố cấp tỉnh” - Điền nói.

            Kể từ khi được thành lập theo nghị quyết 34/NQ-CP ngày 23/09/2010 của chính phủ, thành phố Vị Thanh thay da đổi thịt, đường phố trở nên khang trang, không thua kém nhiều so với các thành phố khác. Dãy phân cách và hai bên lề đường đều có nhiều cây xanh, tạo cảnh quan mát mẻ, khí hậu ôn hòa. Xe dừng lại bên bờ kinh xáng Xà No. Điền và Thức bước xuống xe “Con kinh này đẹp thật!” Điền nói. “Con kinh này dài thăm thẳm, bờ kè dài có đến vài chục kí lô mét”. Thức nói và lấy máy ảnh ra, bấm lia lịa. Điền cũng không bỏ lở thời cơ, cầm máy quay khắp lượt. Trời đã xế chiều. Điền nói với tài xế cho xe chạy xuôi theo bờ kinh sẽ đến Khách sạn Hoa Sen, Thanh đang chờ ở đó.
Khách sạn Hoa Sen tọa lạc trên một khuôn viên rất rộng, kiến trúc theo phong cách cổ điển, phía trước có hồ sen rất thanh nhã, xung quanh có nhiều cây xanh, khung cảnh nhẹ nhàng, thanh thoát theo truyền thống văn hóa Việt. Xe đến nơi. Hai tiếp tân nam mặc áo dài phủ gối, màu đen có viền đăng ten màu tím đậm, nhanh nhẹn đến mở cửa xe, cười thân thiện. Từ bên trong bước ra hai cô gái mặc áo dài màu hồng thắm, cúi đầu chào chúng tôi và một cô nói hân hạnh được đón tiếp quý khách. Điền chào đáp lại và đưa danh thiếp cho cô gái. Kính mời quý khách dùng cơm tối tại nhà hàng chúng tôi. Cảm ơn nhưng chúng tôi còn chờ một người bạn tên Thanh. Vâng, chị Thanh đã sắp xếp và căn dặn chúng tôi đón tiếp quý ông. Thì ra là vậy. Thức nói nhỏ với Điền. “Một sự đón tiếp tuyệt vời thật đấy”.
Điền và Thức đi theo hai cô gái. Khuôn viên nhà hàng ở bên trái khách sạn. Lối đi được trồng nhiều hoa và nhiều cây kiểng. Đằng xa, đã thấy trước cổng treo một dãy lồng đèn hình dáng hoa sen nở lấp lánh, rất đẹp. Hai cô gái cũng mặc áo dài, đang uyển chuyển đến gần chúng tôi. “Chúc mừng là anh đã đến!” một cô nói với chúng tôi bằng giọng rất nhẹ nhàng, “em là Thanh, còn anh phải là anh Điền không?”. Cô gái mĩm cười - Điền nhận ra cô gái ấy chính là Thanh. Cô ấy mặc chiếc áo dài bằng vải lụa mềm có điểm hoa nhỏ, mái tóc thả ngang vai, gương mặt thanh tú, nụ cười thì như đóa hoa đang nở rộ, trông còn trẻ và xinh hơn trong ảnh rất nhiều. Điền vừa lúng túng vừa xúc động.
“Phải, anh là Điền!” Thanh chìa tay ra, Điền nắm lấy tay Thanh mà cứ tưởng là trong mơ.
“Anh chào Thanh, rất vui được gặp em,” anh xoay qua Thức “đây là Thức, bạn anh ở Sài gòn!”
“Em chào anh!” Thanh chìa tay cho Thức và giới thiệu cô gái đi cùng tên là Liễu. Cô gái tên Liễu mặc chiếc áo dài bằng lụa có họa tiết cánh sen đang nở rất đẹp. Liễu cũng xinh đẹp không thua kém vì Thanh.
Bắt tay chào hỏi xong, Thanh đưa mọi người đến một cái chòi lá riêng biệt, bốn bề không có vách che, hương sen thoang thoảng trong gió, đèn treo lủng lẳng dưới những cái chụp có hình dáng nón lá hắt ra những tia sáng lung linh. Bàn tiệc được bày trên một cái bàn gỗ vuông, giữa bàn có một chậu hoa sen trắng còn tươi xanh. Ghế ngồi có lưng tựa cũng bằng gỗ đơn sơ nhưng thú vị. “Thấy là muốn ăn rồi!” Thức lên tiếng “nhiều món quá, hấp dẫn quá!”.
            “Chưa nhiều đâu,” Liễu lên tiếng “đây chỉ mới có 7 món thôi.”
            Vừa lúc đó, anh tài xế cũng đến, nói “cá thác lác cườm Hậu Giang phải không?”
            “Dạ phải,” Thanh nói “hôm nay em đãi các anh 7 món cá thác lác cườm, là đặc sản của quê em, ngoài ra các anh có thể gọi thêm món khác tùy theo khẩu vị.”
            “Đây là món chi mà có hình hai con thiên nga đẹp quá vậy?” Điền nói, tay cầm máy quay.
            “Dạ, đó là món thác lác tổ thiên nga,” Liễu nói, tay gắp bỏ vào chén mỗi người một miếng chả cá “còn đây là món chả thác lác ngũ sắc.”
            “Văn hóa ẩm thực của Hậu Giang nhiều màu sắc quá,” Thức nói và lấy máy ra chụp các món ăn trên bàn tiệc. Điền và Thức cất máy, ngồi vào bàn. Liễu tiếp tục giới thiệu từng món một: Đây là món thác lác chiên sả ớt chấm với nước mắm ớt. “Cay cay, mặn mặn, giòn giòn ...rất ngon”. Anh tài xế nói. “Món này chưa cay lắm đâu, ăn thử món gỏi chua cay thì sẽ cay đến tận mây xanh luôn,” vừa nói, Liễu vừa gắp vào chén cho anh tài xế. Thanh cũng gắp cho Thức và Điền. Nhìn ba người đàn ông vừa ăn vừa hít hà, hai cô gái che miệng cười khúc khích. Hai cô gái vừa gắp thức thức ăn vừa giới thiệu nguyên liệu và cách chế biến từng món. Món nào cũng ngon. Cuối cùng là đến món cơm chiên giòn và lẫu chua.
             Sau khi đã giới thiệu và mời mọi người thưởng thức một lượt hết các món ăn trên bàn,. Liễu cầm chai rượu trong suốt, rót cho mỗi người một ly đầy rồi nâng cao ly rượu bằng hai tay, trịnh trọng nói “chúc mừng khách phương xa, chúc mừng tình bằng hữu chi giao, mời tất cả nâng ly”. Mọi người cùng chạm ly và uống cạn.
             “Nhìn thì giống rượu đế, nhưng mùi thì không phải, ” anh tài xế cầm ly rượu đưa lên mũi ngưỡi ngưỡi, chép miệng  “thơm quá!” nhưng lại không uống.
            “Đây là rượu bưỡi Phú Hữu, đặc sản Hậu Giang,” Thanh nói “nồng độ rất thấp, vị thơm ngọt và chỉ hơi nồng, giúp tiêu hóa tốt và lưu thông máu huyết.”
“Tối nay anh bạn không lái xe,” Thức nói “uống một ly chắc không sao đâu.”
Anh lái xe uống cạn ly, miệng tấm tắc khen thơm và ngon quá, nhưng gương mặt của anh lập tức chuyển thành màu đỏ. Thấy mọi người hướng mắt vào mình rồi cười, anh nói hể uống vào dù một tí là mặt bị đỏ ngay nên anh ít khi uống rượu, phần gì nghề nghiệp cũng phải hạn chế.
            “Mượn ly rượu này,” Điền nâng ly rượu lên “anh cảm ơn sự đón tiếp nồng nhiệt của hai em, xin mời!” Mọi người nâng ly và uống cạn.
            “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu,” Thức nói “gặp bạn hiểu mình uống ngàn chén vẫn còn thấy ít. Cho anh thêm một ly nữa đi nào.”
            Liễu rót cho Thức một ly đầy, hai người chạm ly nghe một tiếng “keng” giòn tan, uống xong làm động tác chúc ngược ly xuống, không còn một giọt rượu. Mọi người vỗ tay. Không khí sôi động hẳn lên.
“Em sẽ uống với anh một ngàn ly nhé,”
            “Thật không?” Thức hỏi.
            “Thật mà!” Liễu cầm chai rượu lên “bao nhiêu đây sẽ đủ cho anh uống một ngàn ly luôn”.
            Thức và Điền ngơ ngác nhìn Liễu, chưa hiểu. Thanh phì cười, nói “Bạn của em tinh nghịch lắm, đó là cách nói mẹo: ngàn ly - tức là ngàn mi-ly-lit - bằng 1 chai rượu 1 lít đó mấy anh ơi.”
            Mọi người cười ồ lên, thì ra là vậy. “Con gái miền tây thông minh và hóm hỉnh thật,” Điền nói. Anh lái xe chấp hai tay, nói “bái phục, bái phục!”. Tất cả cùng cười một trận no nê.
            “Anh chỉ nói có một câu mà đã sập bẫy của mấy em rồi,” Thức nói “hôm nay mấy em đã cho bọn anh mở rộng tầm nhìn.”
            Mọi người cười nói chuyện vui vẻ như đã quen nhau từ lâu lắm. Món tráng miệng là khóm Cầu Đúc, chua chua, ngọt ngọt, thấm tận đáy lòng. Bửa cơm đơn sơ nhưng mang nhiều ý nghĩa, vừa đậm đà hương vị đặc sản Hậu Giang, vừa đánh dấu tình bạn buổi sơ giao rất tốt đẹp.
            Xong tiệc cơm. Mọi người cùng đi dạo. Anh tài xế không quen uống rượu nên xin về nghỉ sớm. Thức và Liễu đi phía trước, hai người nói chuyện rất ăn ý. Điền và Thanh đi chầm chậm dọc theo bờ kè.
Lên cầu vượt qua kinh xáng, hai người đứng lại, ngắm nhìn dòng kinh dài xa tít tắp và thẳng băng. Điền thấy khâm phục sức lao động của con người đã làm nên một công trình kỳ vỹ “Con kinh này rất xứng đáng làm quà tặng ngàn năm Thăng Long.” Điền nói. “Dạ phải,” Thanh nói “con kinh là niềm tự hào của người dân nơi đây, chỉ về đêm mới thấy hết vẻ đẹp của nó.”
Dưới kinh dập dìu tàu, ghe xuôi ngược, từ một máy hát vọng lên một câu hò:
Hò ơ …. Cái Răng, Ba Láng, Vàm Xáng, Xà No
Anh có thương em thì mua một con đò
Để em qua lại. Hò ơ… để em qua lại thăm dò ý anh
Câu hò ngọt ngào sâu lắng như tình cảm của người dân miền sông nước. Điền thấy xao xuyến chạnh lòng.“Có lẽ mình cũng đang qua lại thăm dò ý của Thanh”. Anh thầm nghĩ và lén nhìn Thanh. Cô đang dõi mắt nhìn xa xăm, như đang thả hồn về vùng Cái Răng, Ba láng...
 “Sông Hàn về đêm có ánh đèn sặc sở như pháo hoa,” Điền nói “còn chỗ ni thì lung linh huyền ảo như một lẳng hoa.”
“Dạ, em cũng từng đến Đà Nẳng, từng ngắm Sông Hàn về đêm. Mỗi nơi một vẻ đẹp.”
“Ở đây, một vẻ đẹp rất riêng của Hậu Giang, không lẫn vào đâu được. Lần ni anh sẽ viết bài về một kinh xáng Xà No có sức mạnh kỳ vỹ, nhưng lại rất dịu dàng huyền ảo.”
“Anh là nhà văn à?” Thanh hỏi Điền.
“Anh chỉ thỉnh thoảng viết báo thôi.”
“Và cũng thỉnh thoảng làm thơ phải không?”
“Phải, thỉnh thoảng cám cảnh thì làm thơ cho vui thôi.”
“Anh có thể ứng khẩu thành thơ ngay bây giờ được không?”
“Để anh thử xem nào, nhưng đừng cười anh nhé!”
“Không đâu!”
“Để anh họa lại câu hò lúc nãy nhe:
Thương em anh muốn mua đò,
Đễ anh qua lại thăm dò ý em.”
 “Anh họa lại nghe cũng dễ thương lắm,” Thanh nói “em không giỏi làm thơ, nhưng em cũng mạn phép họa lại như dzầy nè:
Ý anh em đã tận tường
Đò kia anh đón em thương anh liền”
“Hay quá!” Điền nói “rất đúng với tính cách của người miền tây.” Anh tiếp:
Bên ai trên bờ kinh êm ả
Bấy lâu nay anh mới tận tường
Mặn mà duyên dáng dễ thương
Mặt nhìn tận mặt ngở còn chiêm bao”
Thanh khen Điền làm thơ hay quá. Cô hỏi Điền câu cuối “Mặt nhìn tận mặt ngở còn chiêm bao” có ẩn ý gì. Điền nói anh đã từng có giấc mơ được đi dạo cùng người anh yêu. Thanh cười và nói Điền nhìn cảnh lại nhớ người yêu. Cô chỉ tay xuống dòng kinh. Dưới kia có cô gái đang chèo đò, anh làm thơ tiếp đi.
Sông xa soi bóng con thuyền
Dáng hình cô lái diệu hiền lung linh
Đò ơi tôi chỉ một mình
Giúp tôi chở hộ chút  tình đơn phương
Thanh hỏi Điền, có phải cô gái trong thơ là người yêu của anh không? Phải, nhưng anh chỉ đơn phương yêu cô ta thôi, không biết cô ta có yêu anh không. Anh có nói rõ với cô ta không? Chưa! Tại sao? Vì anh sợ. Sợ gì? Sợ bị thất tình. Trời! Thanh bụm miệng cười. Anh có biệt tài kể chuyện vui thật đấy. Em không tin anh sao? Em cũng không biết. Có lẽ Anh Thức và Liễu đã đi xa chúng ta rồi. Ừ! Thanh bước đi. Điền im lặng đi bên cô.

Hai người tản bộ dọc theo đường Trần Hưng Đạo. Công viên bờ kè có nhiều cau đỏ Java, dừa kiểng philippines, hoa ban, hoàng hậu, liễu đỏ, bằng lăng.... làm tăng thêm phong cảnh thơ mộng nơi đây. Dáng đi của Thanh có vẻ như chậm lại. Điền hỏi cô có mệt không. Dạ không, em chỉ hơi bị mỏi chân vì đôi giày có gót cao. Hai người dừng lại trước những bức tượng điêu khắc nghệ thuật bằng đá trắng. Điền hết sức thán phục tài hoa của các nghệ nhân, nghệ sĩ qua từng tác phẩm. Hai người ngồi xuống một băng đá gần đó. Không hiểu sao cả hai đều im lặng.

            “Ở đây không có hoa tigon,” Thanh nói.
            “Em thích hoa tigon à?” Điền hỏi.
            “Dạ phải, hay nói đúng hơn là em thích bài thơ Hai Sắc Hoa tigon của nữ tác giả T.T.Kh. Còn anh?”
            “Anh chẳng những thích mà còn thuộc nằm lòng nữa”
            “Anh đọc cho em nghe đi”
            Điền bắt đầu đọc:
“Một mùa thu trước mỗi hoàng hôn
Nhặt cánh hoa rơi chẳng thấy buồn
Nhuộm ánh nắng tà qua mái tóc
Tôi chờ đến với yêu đương.
Người ấy thường hay vuốt tóc tôi
Thở dài trong lúc thấy tôi vui
Bảo rằng: “Hoa dáng như tim vỡ
Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi.”
Đọc đến đây. Điền chợt thấy đôi mắt của Thanh ươn ướt. Anh dừng lại. Bấy giờ anh mới để ý chiếc áo dài của Thanh có điểm hoa na ná như dáng hoa tigon vậy, cánh hoa nhỏ úp lại với nhau và xếp thành chùm nhỏ, màu hồng thắm. Thanh hỏi anh sao không đọc tiếp, hay là anh quên rồi. Bài thơ buồn quá, Điền không muốn đọc tiếp, anh nói ừ, anh quên. Thanh nói, lời than thở của người thiếu phụ nghe ai oán quá và thảm thương quá:
 “Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim bóng một người.
Em đọc rất nhiều lần, nhưng lần nào cũng không kiềm được nước mắt,” Thanh có vẻ muốn khóc thật.
 “Tình cảm khó nói lắm em à, đôi khi con người không làm chủ được hoàn cảnh nên đành cam chấp nhận số phận.”
“Yêu làm chi cho khổ vậy hả trời?”
“Đó là thời phong kiến với nhiều ràng buộc,” Điền nói “thời đại bây giờ không như vậy nữa, mọi người có thể tự do lựa chọn đối tượng và có quyền quyết định hạnh phúc cho mình.”
            “Thời đại bây giờ tuy có cởi mở hơn, và cho dù câu chuyện có thay đổi khác đi, nhưng làm phụ nữ mà phải sống bên người chồng không yêu thì tội nghiệp biết chừng nào.”
            “Không hẳn là vậy, bởi vì con người luôn cầu toàn nên luôn cảm thấy thiếu thốn và đau khổ vì thiếu thốn đó, hạnh phúc không đòi hỏi phải đầy đủ, hạnh phúc là khi ai đó biết rằng mình ít đau khổ hơn người khác.”
            “Cách nghĩ của anh nghe kỳ lạ quá!”
            “Kỳ là phải,” Điền cười “bởi vì đó là cách nghĩ của riêng anh mà.”
            “Nhưng dù sao cũng đáng để em suy nghĩ,” Thanh cũng cười “theo anh nếu ở vào thời đại bây giờ thì người thiếu phụ trong hai sắc hoa sẽ như thế nào?”
            “Ngay từ đầu cô ấy không nên ưng một người mà mình không yêu.”
“Nhưng theo bài thơ là cô ấy đã lỡ có chồng rồi mà vẫn yêu một người.”
“Như vậy thì chỉ có cách ly dị mới giải thoát được cho bản thân và cho chồng của cô ấy.”
“Nhưng nếu ly dị thì con cái sẽ làm sao?”
“Đây cũng là điều đáng quan tâm, nhưng trong bài thơ không nhắc đến con cái.”
“Hoặc là...chồng cô ta không đồng ý ly dị.”
“Luật pháp bây giờ đã thoáng, có thể đơn phương yêu cầu ly dị nếu chứng minh được hôn nhân không mang lại hạnh phúc cho hai người.”
“Anh có vẻ rành luật hôn nhân gia đình quá hén.”
“Thì cũng biết đại khái vậy thôi, khi đụng chuyện mới biết nhiều em ơi.”
“Tốt nhất đừng có mà đụng chạm đến nó.” Nói đến đây Thanh có vẻ buồn buồn.
“Tất nhiên rồi, nếu gia đình đang hạnh phúc thì đụng đến nó làm chi. Còn em, nếu em là cô gái trong Hai Sắc Hoa Tigon, em sẽ như thế nào?”
            “Em...”, Thanh hơi ngập ngừng “em cũng không biết, nhưng cho dù không được sống cùng người mình yêu, thì em cũng không thể sống với người không yêu”
“Nhưng nếu hoàn cảnh bắt buộc.”
“Cho dù ở hoàn cảnh nào thì cũng có cách giải quyết,” Thanh trở nên sôi nổi hẳn lên “Con người nói chung, sẽ rất đau khổ nếu không được sống bên người mình yêu, nhưng nổi đau đó có thể nguôi ngoai theo thời gian. Còn đối với người phụ nữ mà nói, nếu phải sống bên người mình không yêu thì lại càng đau khổ hơn là không được sống bên người mình yêu, sống như vậy có khác nào đã chết, sự sống trong một thể xác và sự chết trong một tâm hồn - hai cái tồn tại trong một sinh linh yếu đuối của một người thiếu phụ nữ  - là sống trong sự dày dò đau khổ hơn là chết. Cho nên nếu đặt em vào hoàn cảnh đó, thì em sẽ tìm cách quên người yêu cũ để chấp nhận làm một người vợ. Hoặc không quên được người yêu cũ thì phải chọn cách ra đi, chứ em không thể nào sống với người không yêu.”
“Anh cũng nghĩ như vậy, nhưng người phụ nữ thời ấy rất đáng thương, tư tưởng phong kiến trói buộc họ, làm cho họ không dám tự quyết định cuộc đời mình.” Trong lòng Điền cảm thấy buồn buồn, với tính cách mạnh mẽ của Thanh, thì cô ấy khó mà chấp nhận tình cảm của anh.
“Em không mang điện thoại, anh gọi cho anh Thức để xem hai người họ đang ở đâu?” Thanh nói và bước đi.
            Điền gọi cho Thức nhưng không có tín hiệu, anh đi sau Thanh. Dáng của Thanh không cao lắm, bước đi nhẹ nhàng uyển chuyển, vai tròn, eo nhỏ, tà áo dài đung đưa theo nhịp bước, như những nhánh hoa tigon đang rung rinh trước gió, trông đẹp làm sao, trông đáng yêu làm sao. Hoa tigon là một loài hoa có màu hồng tươi thắm, nhưng ở trong bài thơ của K.K.Th lại trở thành một màu hoa buồn đến vậy. Với Điền, hoa tigon là biểu tượng của trái tim yêu, trái tim của Điền đang yêu, và “những trái tim đang rung rinh kia” có lẽ cũng muốn san sẻ tình yêu cùng với Điền. Điền muốn đuổi kịp Thanh để nói “anh yêu em”, nhưng Điền vẫn rảo bước theo sau. Thanh quay lại cười với Điền, không thểdằn lòng,anh nói:
“Tigon là trái tim anh đó!
Là tình yêu anh muốn gửi cho em”
Thanh có một thoáng ngỡ ngàng, rồi mỉm cười tinh nghịch:
“Tigon đỏ thắm tình hồng,
Tim anh đã vỡ mấy lần vì yêu?
Thanh lại đi tiếp, Điền kịp nhận ra đôi má của Thanh phảng phất một màu hồng.
“Tình yêu không đếm bao nhiêu
Lần ni anh quyết đánh liều một phen.”
“Ôi, em sợ quá.” Thanh cười và bước đi thật nhanh, như muốn chạy trốn Điền, anh cũng bước thật nhanh kịp sánh vai cùng cô. Nhưng Thanh lại đi nhanh hơn nữa, bỏ lại Điền phía sau. Điền cố bắt kịp Thanh thì cô lại vượt lên trên, cứ thế, họ về đến khách sạn Hoa Sen. Không nghe tiếng chân phía sau, Thanh quay ra sau thấy Điền khom lưng, hai tay ôm lấy bụng. Thanh hỏi anh bị làm sao. Điền nói, “có lẽ rượu bưỡi và cá thác lác không hòa thuận trong bụng của anh, nó làm anh đau quặn từng cơn”. “Trời đất, vậy là anh bị đau bụng rồi, vậy mà còn nói đùa cho được. Để em dìu anh nhé”. “Không sao đâu, bao tử của anh thỉnh thoảng cũng như thế, một lúc là hết, mai gặp lại nhé”. “Em không thể thấy anh không khỏe mà bỏ về được. Em sẽ giao anh lại cho anh Thức rồi em mới yên tâm về được”. “Đồng ý”.
            Đến cuối dãy khu nhà ngh. Thanh dừng lại trước một phòng  rất đẹp. Nói là phòng nghỉ nhưng không giống phòng liền kề như trong các khách sạn cao tầng. Các phòng nghỉ ở đây được tách biệt riêng lẻ như một gian nhà nhỏ. Mái ngói, cửa gỗ, cây kiểng, lồng đèn... dáng vẻ bề ngoài xinh xắn và gần gũi với thiên nhiên. Điền rất thú vị trước một gian nhà nhỏ xinh xắn như vậy, chẳng những anh không còn đau bụng nữa, mà lại càng phấn chấn hơn. Có lẽ Thanh không biết, nên ánh mắt của cô vẫn còn lo lắng.
“Anh vào trong nghỉ đi nhé,” Thanh vừa mở cửa vừa đứng sang một bên để nhường cửa cho Điền đi vào. Điền vẫn đứng yên, mắt cứ nhìn đăm đắm vào Thanh.
“Anh muốn ở đây chờ Thức về.” nóivậy, nhưng thật lòng Điền không muốn chia tay Thanh.
“Hai người ấy có gì vui mà giờ này chưa thấy về.” Miệng Thanh thêm một nụ cười bí ẩn. Điền có thể hiểu như thế nào hỉ? Thức là mẫu đàn ông nho nhã, có khiếu nói chuyện xã giao, nhưng không thích dây dưa, chỉ khi gặp người “ăn ý” thì mới “xả” hết tấm lòng. Có lẽ Thức đã “ăn ý” với Liễu mất rồi.
“Em giỏi quá, giới thiệu cho Thức một người rất hợp.”
“Nếu đúng như anh nói thì cũng là duyên trời đưa đến, không liên can tới em.”
Thanh trộm nhìn Điền. Trái lại với Thức. Điền có bề ngoài rất phong sương, da rám nắng, tóc đen, trán rộng, mũi to, môi dày, mặt vuông...nói chung là không có gì đặc biệt. Nhưng ánh mắt của Điền như đại dương bao la thăm thẳm. Đã hai lần cô né tránh cái nhìn ấy tại cầu dẫn và trong công viên. Giọng nói của Điền trầm và ấm cho người ta cảm giác ngọt ngào. Có lẽ duyên trời cũng đã sắp xếp cho cô gặp Điền. Nhưng cô khác Liễu, Liễu độc thân, còn cô đã có gia đình. Cô không dám “ăn ý” với Điền, hay nói đúng hơn là cô không thể. Cô chưa từng nghĩ là cô có thể “ăn ý” với bất cứ người nào . Cô không muốn mình trở thành cô gái thứ hai trong hai sắc hoa tigon.
“Chừ cũng muộn, em nên về trước đi,” Tiếng của Điền cắt đứt dòng suy nghĩ của Thanh. “Hay là anh gọi cho anh Thức để biết chừng nào họ về.” Thanh nói. Điền bấm điện thoại. “Thôi khỏi,” Thanh vô tình chạm tay Điền muốn ngăn anh lại “đừng làm phiền họ”.
“Sao tay em run quá vậy?” Điền hỏi.
“Em...không biết”. Mặt của Thanh đỏ bừng, tay này nắm tay kia. Bối rối.
Điền đứng gần Thanh, nắm tay cô, nhìn thẳng vào mắt cô “em đừng sợ, anh không làm em khó xử đâu.”
“Câu đó là em nói với anh mới phải,” Thanh rụt tay về, “vì anh đang ở trên lãnh địa của em mà.”
“Ừ nhỉ, anh quên mất,” Điền phì cười với cách nói dí dỏm của Thanh “nhưng dù ở đâu anh cũng sẽ làm người che chở cho em, em hiểu không?”
“Em...” Thanh không tìm được từ nào để nói trong lúc này, đầu óc của cô như bị ai cướp đi mất. Cuối cùng cô cũng tìm được từ để nói “để em mở đèn cho anh.”
Thanh bước vào ổ điện để tra chìa khóa, cô luống cuống thế nào, chìa khóa lại rơi xuống đất. Cô cúi xuống, đúng lúc đó Điền cũng cúi xuống. Một lần nữa, hai bàn tay vô tình chạm vào nhau. Lần này nhanh hơn, mạnh hơn. Thanh rụt tay và đứng lên. Điền tra được chìa khóa vào ổ cắm. Đèn bật lên, không sáng lắm, mờ ảo, đủ cho Điền thấy một chiếc giường, hai cái gối, một bàn gỗ tròn trên đó có bình hoa sen. Những thứ đó chớp thật nhanh trong mắt Điền.
“Bụng của anh...” Thanh ấp úng.
Điền đưa tay sờ bụng mình, “em thấy bụng anh làm sao?”
Thẹn thùng, Thanh nói rất nhỏ “em định hỏi bụng anh hết đau chưa?” Cô lại cười.
Mỗi lần Thanh cười là Điền khó khăn lắm mới làm chủ được cảm xúc của mình. Nụ cười của Thanh như một thõi nam châm hút anh lại gần cô. Hàm răng trắng đều, cặp môi đầy đặn. Khi hai môi hé mở giống như một đóa hoa đang nở rộ. Đóa hoa phát ra một âm thanh trong trẻo, du dương và hồn nhiên như một đứa trẻ.
“Vẫn còn đau âm ỉ em ơi...”. Điền đã hết đau từ lâu, nhưng anh rất muốn nhìn vẻ mặt lo lắng của Thanh. Trông rất đáng yêu.
“Lạ thật,” Thanh nói “rượu bưỡi rất tốt cho bao tử, nhưng sao anh lại...”
“Anh là người đặc biệt mà.” Điền cố giữ tự nhiên không làm cho Thanh phát hiện.
“Có lẽ anh bị chói nước,” cô thấy mặt Điền đang đỏ bừng lại càng lo hơn “anh có bị sốt không?” cô đưa tay sờ lên trán Điền. Cô ngước lên bắt gặp tia nhìn của Điền. Cô sững sờ. Tia nhìn ấy có luồng điện mạnh quá, nồng nàn quá. Cô hơi choáng.
Điền nắm lấy tay Thanh áp lên ngực trái của mình “Thanh à, em đã ở trong tim của anh từ lâu rồi.”
Tay cô trở nên nhỏ bé trong bàn tay to và ấm của Điền. Cô cũng nghe được tiếng “thình thịch” nhanh và mạnh bên trong lồng ngực của Điền. Và dường như, tim của cô cũng đang đập rất mạnh. Thanh ngọ ngoạy đôi tay, nửa muốn vùng ra, nửa muốn để yên. Điền giữ chặt tay cô. Anh từ từ cúi xuống. Mắt Thanh từ từ khép lại - môi từ từ hé mở.
Điền đặt nụ hôn đầu tiên lên đôi môi đang hé mở, một cách nhẹ nhàng, tỷ mỹ, ngọt ngào, như vậy rất lâu, rất lâu....anh sợ khi anh dịch chuyển sẽ làm nàng sẽ bỏ đi hoặc nàng sẽ biến mất. Thanh hầu như bất động, không có sức phản kháng.
Tay của anh đở bờ vai nàng, bờ vai nhỏ, tròn trịa. Anh vuốt ve lưng nàng, tấm lưng thon thả, mềm mại. Eo nàng nhỏ nhắn, thỉnh thoảng run lên nhè nhẹ. Tấm thân to và khỏe của anh áp sát tấm thân gọn gàng của nàng. Miệng anh vẫn ôm ấp miệng của nàng.
Sự đụng chạm vào cơ thể mềm mại và ấm áp của Thanh làm anh chếch choáng “không biết anh say nàng hay say rượu bưỡi?”. Đầu óc của anh chơi vơi không ranh giới. Một sự kích động rất kỳ diệu mà anh chưa từng có với bất cứ người đàn bà nào khác đã đi qua cuộc đời anh. Không có ngôn từ nào diễn tả được.
Cơ thể anh sắp nổ tung, nếu đây không phải là lần đầu tiên của anh thì cũng không nhớ là mình đã từng có hay chưa, sự rung động trong tận cùng sâu thẳm, niềm cảm hứng từ chân tơ kẽ tóc.
Thanh khó mà tin được là mình đang bị bao bọc bởi đôi tay rắn chắc của một người đàn ông ở phương xa mới gặp lần đầu “không được làm thế!”, Điền nhận ra Thanh đang muốn đẩy anh ra.  “có lẽ mình siết nàng chặt quá”, anh nới lỏng vòng tay. Đầu óc của Thanh quay cuồng, hơi thở của Điền bao trùm khắp thân thể cô “người đàn ông này có phải là do ông trời đã mang đến cho ta”. Nàng xoay người “xin đừng rời anh”. Anh giữ cho lưng của nàng quay vào mình. Anh vén mái tóc nàng qua một bên, môi anh lướt lên cổ nàng, dưới lớp vải mỏng, bộ ngực của nàng đang thổn thức. Từng cái, từng cái một, hàng nút áo của nàng được mở ra. Khi đôi tay của anh cảm giác được làn da của nàng cũng là lúc nàng giữ chặt cánh tay của anh. Nàng dùng sức cố mở rộng cánh tay của anh ra “đừng bỏ anh”. Anh di chuyển ra phía trước nàng, bộ ngực của nàng lồ lộ trước mắt anh, còn làm thế nào được nửa, anh đặt môi của mình lên đó, mặc cho nàng cố đẩy anh ra. Hơi nóng của anh ngấm vào da nàng, cơ thể của nàng như đang bị sốt, tim nàng đập loạn xạ.
 Cả đời của Điền, từng làm “việc ấy” theo bản năng, mỗi khi nhục dục trổi dậy. Chưa bao giờ trong người anh lại có mạch lửa ngầm đang ngun ngụt muốn trào ra như lúc này, và  anh chỉ có thể bế bồng nàng lên và nhẹ nhàng đặt tấm thân ngọc ngà của nàng lên giường. Cơ thể rắn rỏi của anh nằm cạnh nàng. “Em có biết là anh yêu em nhiều lắm không?”. Anh nhìn nàng. Tình yêu của anh đang dâng lên, mạnh đến nổi không có gì ngăn cản anh trong lúc này. Khi da thịt của anh chạm vào da thịt của nàng, cũng là lúc cơ thể của anh âu yếm cơ thể nàng.
Cơ thể của Thanh dường như có ngàn tia điện đang chạy rần rần. Cô bấn loạn. tâm trí hoang mang. Cô không còn bình tĩnh để mà lý luận đúng hay sai. Cô không thể phân biệt được ranh giới của lý trí và bản năng. Bởi gì giờ đây, cô không thể cưỡng lại ngọn lửa đang hừng hực trong lòng mình. Cái vỏ bọc tôn nghiêm bề ngoài của một người đàn bà âm thầm khao khát tình yêu đã bị vạch trần. Cô khép mi lại, cảm nhận tình yêu đang mơn trớn cơ thể mình.
Người đàn ông này khiến cô mất hết lý trí. Người cô chỗ nào cũng râm ran, ngực cô căng lên và tự nó muốn áp sát vào ngực của anh ta.
Ôi! cô không thể kiểm soát được bản thân mình được nữa, cô ghì chặt lấy anh một cách không biết xấu hổ là gì, hai mắt cô mở ra bắt gặp tia điện từ mắt của Điền, mạnh đến nổi làm cô say đắm. Hai mắt cô nhắm lại để tận hưởng cảm giác không thể cưỡng lại được. Cô đã sẵn sàng cùng anh hòa nhịp.
Thời khắc hai tâm hồn cùng gặp nhau trên đỉnh cao tình yêu. Hai cơ thể trộn lẫn vào nhau rồi bay bổng lên không trung. Đất trời như đảo lộn. Thánh thần ơi! Không có gì ngọt ngào và hạnh phúc hơn thế nữa. Cả đời đã yêu, nhưng đây mới thật là tình yêu. Không phải lần đầu - nhưng đây là lần đầu tiên Điền biết yêu là gì. Yêu từ tâm hồn đến thể xác. Yêu trong mãn nguyện. Yêu trong cảm xúc thiêng liêng và tinh khiết. Giây phút này là thời khắc hạnh phúc nhất trong cuộc đời của anh, nó ăn sâu trong tìềm thức, nó ngự trị trong trái tim, và nó sẽ ở đó mãi mãi... Anh lâng lâng trong một thế giới huyền ảo.
Điền và Thanh đang đứng trước một ngọn tháp bằng vàng tỏa hào quang. Theo truyền thuyết, đó là ngọn tháp tình yêu, nếu hai người đang yêu nhau leo lên tới đỉnh tháp thì hai người sẽ mãi mãi bên nhau, nếu không lên tới đỉnh thì hai người sẽ tan ra thành tro bụi. Anh nắm tay Thanh thật chặt rồi cùng leo lên, không biết ngọn tháp có bao nhiêu tầng, hai người cứ leo mãi, cuối cùng hai người cũng trèo lên tới đỉnh, tay anh vẫn nắm chặt tay Thanh cùng nhau bay lên thật cao thật xa. Xuyên qua trùng trùng đám mây, lướt qua lớp lớp dãy ngân hà. Bay mãi.
Tiếng gõ cửa làm Điền choàng tỉnh.
 “Anh Điền ơi, anh Điền!”
Điền ngơ ngác và hụt hẩng khi không có Thanh bên cạnh “Thanh đâu rồi?”. Tiếng gõ cùng với tiếng gọi vang lên. Anh định thần một lúc, cố gắng trả lời “nghe rồi...”, anh đứng lên, cơ thể anh trần trụi “là mơ hay là thật đây?”. Đầu óc anh cứng đờ, nhất thời không xác định được cái gì rõ ràng. Anh nhặt quần áo của mình từ dưới sàn nhà “mùi của nàng vẫn còn đây”, anh nhìn quanh, cố nhớ lại. Cánh cửa bật mở. Liễu và Thức bước vào.
“Cửa không khóa, tụi em lo cho anh.” - Liễu hỏi.
“Anh đâu có làm sao,” Điền mất ý thức về thời gian “đã sáng rồi sao?”
“Trời đất, chưa ngũ mà sáng nổi gì,” Liễu cười “chỉ mới hơn 11 giờ thôi hà.”
“Hai người về muộn thế?” Điền nói.
“Chúng tôi tình cờ gặp vài người bạn của Liễu, sau đó cùng nhau vào một nhà hàng karaoke,” Thức nói “máy hết pin rồi nên không liên lạc được, như thế lại càng hay.”
“Hay cái chi, Thanh bảo tôi gọi cho ông hoài mà không được,” Điền nói mà không có chủ đích rõ ràng.
“Hay ở chỗ là hai người có không gian để trò chuyện,” Thức nói. Điền im lặng, anh không có ngôn từ để thốt thành lời, “không gian của mình có Thanh nhưng sao lại không có Thanh? ”
“Chị Thanh về rồi hả anh?” Liễu hỏi Điền.
“Ừ! Thanh chờ hai người lâu lắm, anh bảo cô ấy về trước rồi” Điền không chắc là Thanh đã về từ lúc nào, nên chỉ nói cho qua chuyện.
“Không ai như anh, có cơ hội mà không nắm bắt, lại bảo cô ta về,” Thức nói.
“Thanh mệt, nên...” Điền đoán là Thanh ra về lúc anh ngủ say.
“Phải đó, chị Thanh không khỏe bằng em đâu, chị ấy về trước là phải,” Liễu nói, “hai anh nghỉ ngơi cho khỏe đi, sáng mai em sẽ đến làm hướng dẫn cho hai anh đi tham quan.”
“Anh đồng ý,” Thức nói “để anh tiễn em nhé”.
“Dạ,” Liễu nói chuyện với Thức rất nhỏ nhẹ, cô chúc Điền ngủ ngon rồi sánh vai cùng Thức.
Điền thừ người. Có một sợi tóc còn vương trên gối. “Tóc của nàng đây mà”. Anh đặt gối vào lòng “hơi ấm của nàng còn đây mà”. Anh như thấy đôi mắt của nàng từ từ khép lại, môi nàng từ từ hé mở “mình đã hôn nàng, đã ôm nàng trong vòng tay, đã cùng nàng bay lên thiên đường tình yêu”. Thế gian này làm gì có thiên đường như thế. Thiên đường đó ở trong mơ.
Sáng hôm sau. Chỉ một mình Liễu đến, không có Thanh. Điền hỏi Liễu sao Thanh không đến. Liễu nói Thanh đã đi Bạc Liêu hồi sáng sớm để giải quyết công việc gấp. Thanh dặn dò Liễu phải đón tiếp hai anh một cách chu đáo, và nhắc anh Điền uống nước trà gừng để trị bệnh chói nước. “Nàng vẫn quan tâm đến bệnh bao tử của mình sao?”
Liễu đưa mọi người đi chơi vườn khóm ở Cầu Đúc và vườn bưỡi ở Phú Hữu. Chủ nhà vườn là người quen biết với Liễu, nên mọi người được tặng một cần xé khóm và một chục trái bưỡi hái từ trên cây xuống. Kèm theo là bốn chai rượu bưỡi.
“Có phải rượu bưỡi sẽ làm cho người ta không phân biệt giữa mơ và thật không?”. Điền nói một câu bâng quơ. Không ai chú ý đến lời của Điền, họ nghĩ rằng anh thích nói đùa. “Tại sao nàng có thể coi như không có chuyện gì xảy ra, để mình chắp chới trong biển tình thế này?”. Điền miên man với nhiều câu hỏi trong đầu.
“Sao Thanh không liên lạc chi với mấy anh?” Điền lại hỏi.
“Chị ấy sẽ không gọi điện thoại cho ai đến khi làm việc xong,” Liễu nói “em thay mặt chị ấy cảm ơn mọi người đã đến thăm và hy vọng lại được đón tiếp mấy anh trong thời gian tới”
“Anh cảm ơn em và Thanh đã đón tiếp anh như bạn bè thân thiết, anh sẽ không quên những kỷ niệm trãi qua ở đây. Giữ gìn sức khỏevà nhớ giữ liên lạc nhé”. Điền bắt tay Liễu rồi bước lên xe, lòng nặng trĩu. Thức vẫn còn bịn rịn và nói chuyện với Liễu.
“Liễu ở lại giữ gìn sức khỏe nhé, nhớ giữ liên lạc với anh nhé.” Thức nắm tay Liễu không muốn buông ra.
“Dạ, anh về mạnh giỏi.” Liễu nhỏ nhẹ và nhìn Thức lưu luyến.
“Liễu này, anh hỏi thật em nhé.”
“Anh hỏi đi.”
“Có thật là cô Thanh không đến vì có công việc không?”
“Thật mà,” Thanh trố mắt nhìn Thức “sao anh hỏi vậy?”
“Vì anh thấy anh Điền có vẻ buồn, nên hỏi vậy thôi.”
“Em biết, nhưng...”, Liễu ngập ngừng.
“Nhưng sao em?”
“Chị Thanh không đến là có công việc thật, điều em muốn nói là một chuyện riêng, không biết có nên nói hay không.”
“Đừng ngại, em nói đi.”
“Ông xã của chị Thanh là người trăng hoa, nhưng có tính hay ghen, chị Thanh là người nghiêm túc nhưng vẫn bị ông xã nghi kỵ này nọ, nên chị ấy không thoải mái lắm trong giao tiếp.”
“Có thể vì vậy mà cô Thanh đã hạn chế tiếp xúc với anh Điền.”
“Em thấy không hẳn là như vậy. Có thể vì anh Điền là người đã có vợ, chị Thanh không muốn phát triển tình cảm đến mức trở thành người thứ ba. Vì đã có người thứ ba xuất hiện trong gia đình chị. Hiện giờ ông xã chị ấy công khai sống với một cô gái ở Bạc Liêu, chị Thanh biết và muốn ly dị nhưng ông xã chị ấy không chịu. Chị ấy là người có chồng mà lại sống cô đơn.”
“Có chuyện này nữa sao? Ai biết được bề ngoài một cô gái xinh đẹp, hoạt bát, vui vẻ như Thanh lại có một hoàn cảnh đau buồn như vậy?”
“Phải, nhìn bề ngoài vậy chớ, chị ấy khổ tâm lắm.”
“Nếu sống không hạnh phúc thì có thể xin ly dị, luật hôn nhân gia đình bây giờ cũng đã thay đổi, hơn nữa ông xã của Thanh là người có lỗi trước.”
“Anh nói phải, nhưng hết năm nay, khi con gái chị ấy đi nước ngoài du học, chị ấy sẽ giải quyết chuyện này. Đừng nói với chị Thanh là em đã nói với anh nhé.”
“Anh hiểu. Gửi lời anh chào tạm biệt Thanh nhé.”
Xe lăn bánh mà hai người vẫn còn vẫy tay chào nhau. Thức ngoái đầu nhìn lại vẫn thấy Liễu nhìn theo. Điền bấm máy gọi cho Thanh nhưng không có tín hiệu. Đầu óc của anh mù mịt. Phải chăng đêm qua mình đã mơ. Không! Cảm giác vẫn còn đây. Tại sao nàng bỏ mặc ta trong lúc ta cảm nhận được hạnh phúc thật sự của cuộc đời mình. Nàng nghĩ gì vậy. Có phải nàng trốn tránh ta. Anh cảm thấy sợ hãi khi nghĩ mình đã mất nàng vĩnh viễn. “Đừng bỏ anh, Thanh ơi”.
Thức biết Điền rất buồn, anh lưỡng lự là có nên nói với Điền về “bí mật’ của Thanh.
“Anh Điền này,” Thức nói “tối qua hai người nói chuyện với nhau nhiều không?”
“Cũng nhiều, nhưng sau đó tôi bị đau bụng nên về sớm...”
“Anh thấy cô Thanh là người như thế nào?”
“Đẹp nhưng giản dị, thông minh nhưng không kiêu, thân thiện nhưng nghiêm túc.”
“Đúng, đó là bề ngoài, còn bên trong?” Thức cố thăm dò Điền, xem Điền có biết gì về Thanh không.
“Đừng suy nghĩ méo mó nhe”
“Anh hiểu nhầm ý của tôi rồi, tôi muốn hỏi anh là cô Thanh có tâm sự gì không?”
“Tâm sự à?” Điền có vẻ ngạc nhiên “vì sao ông hỏi như vậy?”
“Liễu nói với tôi...”
“Chờ chút,” Điền nói “để tôi đọc tin nhắn của Thanh.” Ngay lập tức Điền dán mắt vào điện thoại.
“Em xin lỗi vì đã không đến tiễn anh. Tối qua anh ngủ có ngon không? Bụng anh còn đau không? Đi tham quan vườn trái cây có vui không? Liễu có chu đáo với mấy anh không? Em rất xúc động, vì anh đã đến, đã cùng em đi dạo trên bờ kinh Xà No, đã làm thơ tặng em.  Em sẽ trân trọng và giữ gìn kỷ niệm đẹp của tối hôm qua. Hãy chú ý đến bao tử của anh nhé. Em đã nợ anh lời tạm biệt, lần sau anh đến, nhất định em sẽ trả nợ cho anh. Mong anh quý trọng và giữ gìn hạnh phúc mà anh đang có.”
Điền đọc đi đọc lại tin nhắn của Thanh. Nàng hỏi anh rất nhiều, quan tâm anh mọi thứ, nhưng lại không đề cập đến “chuyện ấy”. Anh miên man suy nghĩ “Em muốn nói gì với anh, hả Thanh?”

                                                                  Huyền Văn

 


Chú thích:
(1) Lời bài hát: Bên dòng Xà No, Nhạc sĩ Lê Nghiệp



Thứ Hai, 3 tháng 2, 2014

2298. KHÔNG CÓ CÁI GỌI LÀ “TỪ HÁN VIỆT”

Posted by News on February 4th, 2014
Hà Văn Thùy
Trên trang mạng Bách Việt, ông Trần Kinh Nghị có bài “Di sản Hán Việt”*. Sau khi nhận định: quãng trên dưới 70-80 % từ vựng tiếng Việt có thành tố Hán-Việt, ông cho rằng “nếu vì một lý do nào đó mà để ngôn ngữ nước mình bị một ngôn ngữ khác lấn át và tình trạng lấn át kéo dài chắc chắn sẽ dẫn đến nguy cơ bị đồng hóa hoặc thoái hóa.” Kết thúc bài viết, ông đề nghị Nhà nước có biện pháp hạn chế việc dùng từ Hán Việt để giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt.
Đồng cảm với nỗi bức thúc của ông nhưng nhận thấy đây là vấn đề lớn và không hề đơn giản, chúng tôi xin thưa lại đôi lời.
I. Có đúng tiếng Việt vay mượn từ ngôn ngữ Hán?
Muốn giải quyết thỏa đáng chuyện này, không còn cách nào khác là phải đi tới tận cùng cội nguồn ngôn ngữ, không chỉ của người Việt mà cả của người Trung Hoa.
Nửa sau thế kỷ XIX, ngay khi chưa đặt xong ách đô hộ trên toàn cõi Vệt Nam, những học giả người Pháp đã có mặt để nghiên cứu thiên nhiên, con người, văn hóa, xã hội xứ Annam. Từ kết quả nghiên cứu, năm 1898, nhà nước bảo hộ Pháp cho thành lập Viện Viễn Đông Bác Cổ tại Hà Nội. Đứng đầu lĩnh vực khoa học nhân văn là những nhà Hán học như E. Aymonier, L. Maspéro… Là học giả phương Tây, họ mang quan niệm Âu trung: châu Âu là trung tâm của văn minh nhân loại. Là nhà Hán học, họ theo thuyết Hoa tâm: Trung Hoa là trung tâm của châu Á. Họ cũng chịu ảnh hưởng của tri thức sai lầm đương thời cho rằng, con người từ Tây Tạng xâm nhập Trung Quốc rồi sau đó xuống Việt Nam và Đông Nam Á nên ánh sáng văn minh cũng từ Trung Hoa lan tỏa tới phương Nam. Khi nghiên cứu tiếng nói của người Việt Nam, họ có trong tay những bộ từ điển Trung Hoa đồ sộ như Từ Hải, Tứ khố toàn thư, Khang Hy… Trong khi đó, tiếng Việt chỉ có Từ điển Việt-Bồ-La của Alexander de Rhodes cùng Đại Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của, hai cuốn sách nhỏ, tập hợp từ ngữ Việt chữ Latinh mới có khoảng 300 tuổi. Bằng thao tác đơn giản là thống kê, so sánh những từ được cho là gốc Hán có trong tiếng Việt, họ eureka: “Tiếng Việt mượn khoảng 70% từ Hán ngữ!”
Sự thật có đúng như vậy không?
Vào năm 1898, H. Frey, một đại tá người Pháp, từng công tác ở Tây Phi sau đó có mặt ở Việt Nam, đã xuất bản cuốn Tiếng Annam, mẹ của các ngữ (L’Annamite, mère des langues): Tiếng Annam, xuất xứ của các ngôn ngữ: Cộng đồng các chủng tộc Xentơ, Xémit, Xuđăng và Đông Dương. Bằng kinh nghiệm ở Châu lục đen, nhà ngữ học chân thực này cho rằng tiếng Việt gần gũi với tiếng các sắc dân châu Phi và là nguồn cội của mọi ngôn ngữ phương Đông. Tiếp đó ông còn cho ra hai cuốn khác khẳng định quan điểm của mình. Tuy nhiên, các viện sĩ của Viễn Đông Bác Cổ “không thèm chấp” gã tay ngang võ biền. Không chỉ vậy, vào năm 1937-1938 còn có cuộc tranh luận giữa nhà ngữ học trẻ người Ba Lan Prilusky với viện sĩ Maspéro. Từ khảo cứu của mình, Prilusky phát triển quan điểm của H. Frey nhưng kết cục phần thắng thuộc về bậc lão làng!
Kết luận của Viện Viễn Đông Bác Cổ dáng đòn hủy diệt không chỉ vào văn hóa mà cả vào tương lai dân tộc Việt Nam! Do ngón đòn ác hiểm này mà sau đó, khi phân loại ngôn ngữ phương Đông, đề xuất một họ ngôn ngữ Annam bị bãi bỏ do “không xứng đáng vì vay mượn quá nhiều từ nước ngoài!” Thay vào đó là họ ngôn ngữ mang cái tên không tiêu biểu: ngôn ngữ Mon-Khmer. Kết quả là cho đến nay, trong sách giao khoa ngôn ngữ của nhiều đại học hàng đầu thế giới vẫn viết “Tiếng Việt vay mượn khoảng 60% từ ngôn ngữ Trung Hoa (!)” Dù sao thì cũng được an ủi phần nào vì 60% ít hơn con số chúng ta tự nhận!
Điều khủng khiếp nhất là, vào thập niên 1920, các học giả tiên phong người Việt như Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Tố… tiếp nhận tri thức sai lầm đó, dạy cho con dân Việt. Ý tưởng tiếng Việt vay mượn tiếng Hán như cỏ dại lan rộng trên cánh đồng tư tưởng, thấm tới toàn bộ người có học Việt Nam hiện nay! Gần suốt thế kỷ, học giả Việt không một lời cãi lại. Ở thập niên 80, trong công trình ngữ học công phu Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, Nguyễn Tài Cẩn “khám phá”: ngoài cái gọi là “từ Hán Việt”, trong tiếng Việt còn lớp từ Hán cổ và lớp từ Hán Việt Việt hóa (1). Không đưa ra con số thống kê nhưng với hai lớp từ được bổ sung đó, có lẽ tỷ trọng vay mượn của tiếng Việt còn tăng lên gấp bội!
Nhưng dù sao, đấy chỉ là tính toán của nhà bác học, còn với người dân Việt, ít người tin, chỉ vì lý do đơn giản: một dân tộc vay mượn đến bằng nấy tiếng nước ngoài không thể là dân tộc trưởng thành, chắc chắn đã bị đồng hóa sau nghìn năm nô lệ!
Năm 2006, từ nghiên cứu của mình, chúng tôi công bố bài viết Tiếng Việt là chủ thể tạo nên ngôn ngữ Trung Hoa (2). Rất may là ý tưởng “điên rồ” đó chẳng những không bị ném đá mà còn không rơi vào im lặng. Ít lâu sau, từ Sacramento nước Mỹ, nhà nghiên cứu Đỗ Ngọc Thành gửi cho chúng tôi những bài viết chấn động: Phát hiện lại Việt Nhân ca, Phục nguyên Duy giáp lệnh của Việt vương Câu Tiễn, Đi tìm nguồn gốc chữ Nôm…(3) trong đó dẫn ra hàng nghìn bằng chứng không thể phản bác cho thấy, tiếng nói nguyên thủy của người Trung Hoa là tiếng Việt. Người bạn Việt Triều Châu của tôi khẳng định: “Tất cả các chữ tượng hình được làm ra là để ký âm tiếng Việt. Vì vậy, mọi chữ vuông chỉ khi đọc và giải nghĩa bằng tiếng Việt mới chính xác!” Một sự ủng hộ vô giá! Càng may hơn là đầu năm 2012, chúng tôi nhận được tin: Hội nghiên cứu văn hóa Lạc Việt tỉnh Quảng Tây Trung Quốc phát hiện chữ Việt cổ khắc trên xẻng đá, giống với chữ Giáp cốt (4)! Từ những nguồn tư liệu phong phú và vững chắc, chúng tôi nhanh chóng hoàn thành bài viết: Chữ Việt là chủ thể tạo nên chữ viết Trung Hoa (5)!
Như vậy, sang thế kỷ này, nhờ tiến bộ của khoa học thế giới, nhờ tấm lòng và công sức của cộng đồng người Việt, không những chúng ta xác định được người Việt có đa dạng di truyền cao nhất trong dân cư châu Á, có nghĩa, Việt Nam là cái nôi của các dân tộc phương Đông mà còn chứng minh được, tổ tiên ta để lại trên đất Trung Hoa không chỉ tiếng nói mà cả chữ viết.
Chúng tôi hình dung quá trình hình thành tiếng nói và chữ viết trên đất Trung Hoa như sau:
Nhiều dữ liệu khoa học cho thấy, 40.000 năm trước, người Việt cổ đã từ Việt Nam đi lên khai phá đất Trung Hoa. Tới 4000 năm TCN, người Việt đã xây dựng ở đây nền văn hóa nông nghiệp rực rỡ. Năm 2698 TCN, người Mông Cổ do Hiên Viên dẫn đầu, vượt Hoàng Hà vào chiếm đất Việt, dựng vương triều Hoàng Đế. Trong vương quốc Hoàng Đế, người Mông Cổ hòa huyết với người Việt, sinh ra người Hoa Hạ. Người Hoa Hạ bú sữa mẹ Việt, học tiếng nói Việt. Do ngôn ngữ Mông Cổ nghèo nên tiếng Việt thành chủ thể của tiếng nói vương triều. Cùng với thời gian, người Hoa Hạ thay cha ông Mông Cổ lãnh đạo xã hội, đã áp đặt dân chúng nói theo cách nói Mông Cổ (Mongol parlance: tính từ đứng trước danh từ, hay như ta vẫn gọi là cách nói ngược.) Trên thực tế, ngôn ngữ của dân cư vương triều Hoàng Đế là tiếng Việt được nói theo văn phạm Mông Cổ. Sau này, nhà Tần, nhà Hán mở rộng lãnh thổ, ngôn ngữ tại các vùng bị kiêm tính cũng chuyển hóa theo cách tương tự. Do người Việt sống trên địa bàn rộng với thổ nhưỡng, khí hậu khác nhau, nên ngôn ngữ bị phân ly thành nhiều phương ngữ. Trong đó, tiếng nói vùng Quảng Đông (Việt Đông), Phúc Kiến (Mân Việt) là chuẩn mực nên được gọi là Nhã ngữ với ý nghĩa ngôn ngữ thanh nhã. Đời nhà Chu, rồi nhà Hán, triều đình khuyến khích nói theo Nhã ngữ.
Vấn đề khác cũng cần minh định là ảnh hưởng của chữ viết tới sự hình thành ngôn ngữ phương Đông. Chữ tượng hình được phát hiện sớm nhất ở văn hóa Giả Hồ 9000 năm rồi ở văn hóa Bán Pha tỉnh Sơn Tây 6000 năm trước. Khảo cổ học cũng cho thấy, khoảng 4000-6000 năm cách nay, chữ tượng hình được khắc trên xẻng đá ở di chỉ Cảm Tang tỉnh Quảng Tây. Chữ Lạc Việt sau đó được đưa lên đồng bằng Trong Nguồn, bây giờ là Trung Nguyên, vốn là một trung tâm lớn của người Dương Việt, để khắc lên xương thú và yếm rùa, về sau được gọi là văn Giáp cốt.
Chữ viết trên yếm rùa và xương thú là chữ đơn lập, không thể ghép vần. Tiếng Việt cổ vốn đa âm nên muốn được ký âm buộc phải đơn âm hóa. Do đó, tại trung tâm đầu não của người Việt, ít nhất là từ Quý Châu Quảng Tây tới Hà Nam, tiếng nói chuyển dần thành đơn âm. Một vấn đề khác nảy sinh: tiếng nói thì nhiều nhưng số chữ chế ra có hạn nên chỉ có những tiếng tiêu biểu mới được ký tự. Do vậy, chữ tượng hình tập hợp được những tiếng nói tiêu biểu nhất của người Việt. Đây là quá trình độc lập, diễn ra trong cộng đồng Việt mà người Hoa Hạ từ thời Hoàng Đế tới giữa đời Thương không biết. Khi vua Bàn Canh chiếm đất Hà Nam, lập nhà Ân (1384 TCN), mới biết chữ Giáp cốt của người Dương Việt. Với nhà nước được tổ chức tốt, Bàn Canh đã tiếp thu và cải tiến chữ của người Việt để ghi việc bói toán, cúng tế cùng địa lý, lịch sử (5). Trong triều đình nhà Ân, những “họa sư”- người vẽ chữ, “bốc sư”- thày bói, người Việt, được “lưu dụng” làm công việc này. Thay nhà Thương, nhà Chu chuyển sang viết chữ trên thẻ tre, trên lụa, cũng sử dụng nhiều ông thầy người Việt. Nhà Tần vốn là bộ lạc người Việt, khi dựng nước đã thể chế chữ Giáp cốt thành chữ Triện tồn tại tới nay. Như vây, có thể nói, không chỉ sáng tạo ra chữ Giáp cốt mà người Việt còn tích cực góp phần cải tiến, hoàn thiện chữ viết. Do đó quá trình đơn âm hóa tiếng nói được đẩy mạnh.
Sau đời Hán, Trung Quốc loạn lạc, nhiều triệu người thiểu số phía Tây thâm nhập, khiến cho tiếng nói bị pha tạp, theo hướng tăng cường giọng điệu du mục. Tiếng nói của cư dân trong vương triều thay đổi, dẫn tới việc người trong nước không hiểu được nhau. Để khắc phục, các vương triều dùng tiếng nói của kinh đô làm chuẩn mực giao tiếp của triều đình: quan thoại ra đời. Nhà Đường lấy tiếng nói của kinh đô Tràng An làm tiếng nói chính thức, được gọi là Đường âm. Đường âm là tiếng Việt được người Tràng An nói thời nhà Đường. Đấy là bộ phận tinh hoa của tiếng Việt được ký tự bằng chữ vuông. Đường âm được mang sang dạy và giao dịch ở Việt Nam. Khi giành được quyền tự chủ, nước ta thoát ách đô hộ của phương Bắc về chính trị, kinh tế, văn hóa. Tuy nhiên, văn tự tượng hình vẫn là chữ viết chính thống và Đường âm được duy trì dưới tên gọi là chữ Nho, chữ Thánh hiền. Trong khi đó, quan thoại của Trung Hoa biến cải theo sự thay đổi của vương triều và kinh đô. Tới giữa thế kỷ trước, tiếng Bắc Kinh là tiếng nói chính thống của Trung Hoa, chỉ được số lượng nhỏ người dùng. Nhà Mãn Thanh rồi chính quyền Quốc dân đảng không làm nổi việc thống nhất ngôn ngữ. Chỉ tới năm 1958, sau gần 20 năm nhà nước Trung Hoa nỗ lực thực hiện cuộc đồng hóa khốc liệt, tiếng Bặc Kinh mới được phủ sóng trên phần lớn lãnh thổ. Tuy nhiên, tới nay trong vùng Nam Dương Tử vẫn có khoảng 20% từ địa phương, truyền miệng trong dân gian mà không được ký tự.
Một vấn đề từ lâu được đặt ra: chữ Nho xuất hiện ở nước ta từ bao giờ? Chưa ai xác định được ! Chúng tôi không biết, hàng nghìn năm trong nước Văn Lang, vùng đất bây giờ là Việt Nam, chỉ cách Cảm Tang, Quý Châu khoảng 150 km, có sử dụng chữ tượng hình? Nhưng biết chắc, bộ lạc Thủy, di duệ của người Lạc Việt ở Quảng Tây, từ thời Tần Hán trốn vào rừng, bị thiểu số hóa, vẫn giữ được sách cổ ghi bằng chữ Thủy, tương tự Giáp cốt văn của tổ tiên Bách Việt, gọi là Thủy thư (5). Nay được coi là văn tự hóa thạch sống, một bảo vật văn hóa nhân loại. Một điều chắc chắn khác là, muộn nhất, chữ Nho có mặt ở nước ta thời Triệu Vũ Đế. Việc khám phá lăng mộ Triệu Văn Đế ở Quảng Châu với rất nhiều di vật khắc chữ Nho chứng tỏ điều này. Chắc chắn rằng, trong 100 năm xây dựng và bảo vệ Nam Việt,  nhà Triệu đã dùng chữ Nho trong hành chính, luật pháp và dạy học. Vì vậy, khi sang nước ta, Mã Viện phát hiện “Luật Giao Chỉ có tới 10 điều khác luật nhà Hán”(6). Có phần chắc là luật Việt được viết bằng chữ Nho. Chúng tôi cũng nghĩ rằng, muộn nhất, tiếng Việt vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ và Trung Bộ, được đơn âm hóa từ thời nhà Triệu. Và cùng với việc phổ biến chữ Nho, tiếng Kinh ngày càng trở nên đơn âm.
Một câu hỏi: khi sang nước ta, người của Triệu Đà rồi quan quân nhà Hán nói tiếng gi? Sử ký viết, “Đà giết trưởng lại người Tần rồi đưa người của mình lên thay.” Triệu là một tiểu quốc của người Việt, nên Triệu Đà và tâm phúc của ông là người Việt (7). Xuống Giang Nam, người của ông gặp tiếng Việt Quảng Đông, Mân Việt, thứ tiếng Việt thanh nhã chuẩn mực. Thời Hán cũng tương tự, vì ngoài một số không nhiều quan cao cấp người phương Bắc thì tới nước ta phần lớn là người Giang Nam. Họ là người Việt, cho dù có nói ngược theo cách nói Hoa Hạ thì vẫn là tiếng Việt. Vì lẽ đó, rất có thể hai bên gần như hiểu được nhau. Vì vậy, việc học chữ Nho khá dễ dàng.
Về sau, qua mỗi thời đại, tiếng của quan quân phương Bắc lại khác đi. Đến thời Đường, tiếng nói của kinh đô Tràng An được dùng làm quan thoại. Thực chất, đó là tiếng Việt ở kinh đô Tràng An thời nhà Đường. Điều này cho thấy một bộ phận tiếng Việt trải qua quá trình biến đổi dài từ đa âm, không thanh điệu, tới đây đã thành đơn âm và sáu thanh. Có lẽ, tiếng nói của bộ phận cư dân mà sau này là người Kinh cũng được chuyển hóa như vậy?
Sau thời Đường, nước ta độc lập, chữ Nho trở thành quốc ngữ. Theo dòng thời cuộc, tiếng nói của người Trung Hoa thay đổi, ngày càng xa gốc Việt. Chẳng những người Việt không hiểu tiếng người phương Bắc mà người Trung Quốc cũng không còn nói được Đường âm. Di sản vô giá thơ Đường chỉ còn người Việt Nam thưởng thức trong âm điệu tuyệt vời.
Từ phân tích trên chứng tỏ rằng, tiếng Việt không những không vay mượn mà trái lại, còn là gốc gác, là mẹ đẻ của ngôn ngữ Trung Hoa. Cái mà nay người ta quen gọi là “từ Hán Việt” là sự lầm lẫn lớn bởi chưa hiểu cội nguồn sinh học cũng như văn hóa dân tộc, trong đó có quá trình hình thành tiếng nói và chữ viết.
II. Vai trò của lớp từ Việt cổ trong văn hóa dân tộc
Như đã nói ở trên, tiếng thì nhiều nhưng chữ làm ra quá ít nên tổ tiên ta bắt buộc phải chọn thật kỹ những tiếng cần ký tự. Đó là những tiếng có nội dung sâu sắc, hàm chứa ý nghĩa uyên thâm, mà sau này được gọi là ngôn ngữ hàn lâm. Dù có áp dụng cách tạo từ đồng âm dị nghĩa thì cũng còn vô số tiếng không được ký âm vì không đủ chữ. Ở phía bắc Trung Hoa, dần dần những tiếng không được ký tự bị mai một.
Trong khi đó, ở miền nam, chúng trở thành từ địa phương, được truyền miệng trong dân gian. Ở Việt Nam tình hình tương tự. Khi làm chủ đất nước, người Việt thấy quá nhiều tiếng không có chữ, nên vào đời Trần đã mô phỏng chữ Nho để tạo ra chữ Nôm. Tuy nhiên, vì nhiều lẽ, chữ Nôm không được coi là văn tự chính thức. Mọi giao dịch hành chính đều phải dùng chữ Nho, nên nhiều địa danh phải chuyển sang chữ Nho, việc làm bất khả kháng ngày xưa khiến nay nhiều người bức thúc.
Một vấn đề cũng cần bàn cho ra lẽ, đó là tìm tên gọi xác đáng cho lớp từ đặc biệt này. Thoạt kỳ thủy, nó là Đường âm. Tới lúc nào đó được gọi là chữ Nho. Ở miền Nam cho tới năm 1975, gọi là cổ văn. Vào thập niên 1960, các học giả miền Bắc gọi là “từ Hán Việt”. Một thời gian dài nửa thế kỷ ta chấp nhận tên gọi đó vì tưởng rằng hợp lý. Nhưng bản thân khái niệm “từ Hán Việt” lại mâu thuẫn và vô nghĩa. Thuật ngữ này hàm ý: chữ của Hán, còn cách đọc của Việt, ghép lại thành “từ Hán Việt.” Nhưng như phát hiện của Nguyễn Tài Cẩn, cách đọc đó chính là tiếng nói ở kinh đô Tràng An thời nhà Đường! Như vậy, theo cách hiểu hiện nay, cả chữ viết và cách đọc đều của người Hán, nên không thể là “từ Hán Việt!”. Nay ta thấy không thể tiếp tục dùng thuật ngữ sai lầm cũ. Nhưng dùng tên nào thích hợp hơn?
Đường âm là đúng nhưng bây giờ không thể trở lại tên gọi này vì đó là sản phẩm của một thời điểm lịch sử. Tiếng Hán không đúng vì đó không phải là tiếng nói thời nhà Hán, càng không phải tiếng nói của người Trung Hoa hôm nay. Có lẽ tên gọi chữ Nho phù hợp hơn cả, vì nó có nghĩa là chữ của nhà nho, sâu xa hơn, như phát hiện của triết gia Kim Định, là sản phẩm của văn hóa Việt nho nguồn cội. Sở dĩ gọi là “từ Hán Việt” vì người ta lầm tưởng đó là sản phẩm vừa của Hán vừa của Việt. Tuy nhiên cách hiểu như thế vừa không chính xác vừa gây phản cảm, đè nặng lên tâm trí chúng ta một cảm giác lệ thuộc bên ngoài. Thực chất, đó không phải “từ Hán Việt” mà là tiếng Việt cổ. Khác với nhiều ngữ khác, tiếng cổ là tử ngữ, thì trong ngôn ngữ Việt, tiếng Việt cổ vô cùng sống động. Lý do nó trở thành cổ ngữ là vì lịch sử dân tộc có biến động lớn, chữ Nho bị bãi bỏ để thay bằng thứ chữ viết khác. Mấy trăm năm trước, khi chuyển giao chữ La Tinh quốc ngữ cho chúng ta, một học giả phương Tây từng nói đại ý: Chúng ta trao cho người Annam một thứ chữ dễ học, giúp họ nhanh chóng bắt kịp đà văn minh. Nhưng chắc chắn nó sẽ làm cho thế hệ tương lai của họ cắt đứt với nguồn cội. Hôm nay, lời cảnh báo đó đã trở thành hiện thực với toàn bộ nền văn hóa Việt. Về ngôn ngữ thì đó là lớp lớp người Việt không hiểu tiếng nói của tổ tiên, như tác giả Trần Kinh Nghị than phiền. Vì vậy, chúng tôi cho rằng, cần nhìn nhận lại gia sản quý giá này để sử dụng tốt nhất.
III. Kết luận
Hàng ngàn năm nay do ngộ nhận nên ta cho rằng, bộ phận tinh hoa, quan trọng nhất của tiếng Việt là đồ vay mượn! Sự lầm lẫn này đã tạo nên nỗi đau ngàn năm khi ta vừa căm ghét một công cụ mà trong quá khứ kẻ thù dùng để đồng hóa, nô lệ mình lại vừa không thể chối bỏ! Không thể không dùng nhưng rồi mỗi khi dùng lại day dứt nỗi niềm cay đắng mặc cảm vay mượn!
Nay chúng ta phát hiện ra sự thật: không hề có cái gọi là “Từ Hán Việt”! Đó chính là chữ Việt, tiếng Việt được tổ tiên ta sáng tạo trong quá khứ. Việc khẳng định bản quyền tiếng Việt cổ là khám phá có ý nghĩa đặc biệt, nó giúp ta tự tin, làm chủ tài sản vô giá của dân tộc. Vấn đề hiện nay là tuyên truyền để mọi người cùng hiểu. Công việc quan trọng khác là nghiên cứu sử dụng vốn tài sản này, làm phong phú ngôn ngữ, góp phần xây dựng văn hóa dân tộc.
Cái to nhất ngăn trở ta dám nhận lại tài sản vô giá này là thói nô lệ, thói tự kỷ ám thị nặng nề khiến ta vô thức đẩy nhiều di sản quý báu của tổ tiên cho người ngoài để rồi cúc cung làm chú học trò ngu ngơ, bị đè bẹp dưới cái bóng hoang tưởng!
Một khi nhận ra chủ quyền, ta sẽ làm gì với tài sản vô giá này?
Nhiều người đã hiểu cơ sự nên kiến nghị khôi phục việc học chữ Nho. Đấy là việc không thể không làm. Trước hết vì giá trị lớn lao của chữ Nho. Tính triết lý sâu xa, ý nghĩa thâm thúy của nó khác với bất cứ chữ viết nào, giúp người học rèn trí thông minh, luyện tư duy… Chỉ điều này mới giúp chúng ta tiếp nối với truyền thống, tránh được mối nguy mất gốc như học giả nước ngoài cảnh báo mấy trăm năm trước. Đó là việc cần chủ trương và kế hoạch lớn. Trước mắt, việc có thể làm ngay là, trong chương trình tiếng Việt phổ thông, nên bổ sung một số tiết giảng tiếng Việt cổ, nhằm giải nghĩa những từ thường dùng để học sinh hiểu và sử dụng đúng, đồng thời tập cho họ cách tra Từ điển tiếng Việt.
Chúng tôi xin mạo muội đề nghị, cần một cuộc cách mạng loại bỏ thuật ngữ “từ Hán Việt” khỏi ngôn ngữ Việt để thay vào đó tên gọi đúng: tiếng Việt cổ! Đồng thời dùng lại thuật ngữ chữ Nhođể gọi văn tự của tổ tiên mà xưa nay vẫn lầm tưởng là chữ nước ngoài.
Madrak, 1. 12. 2013
Tài liệu tham khảo: 
1. Nguyễn Tài Cẩn – Nguồn gốc và quá trình     hình thành cách đọc Hán Việt. NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội, 1979
2. Hà Văn Thùy. Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học, 2008.
3. Đỗ Ngọc Thành. Nhannamphi.com
4. Hà Văn Thùy. Chữ Việt chủ thể sáng tạo chữ viết Trung Hoa  http://huc.edu.vn/chi-tiet/1868/Chu-Viet-la-chu-the-sang-tao-chu-viet-Trung-Hoa.html
6. Hậu Hán thư- Mã Viện truyện
7. Hà Văn Thùy – Nỗi bất an của lịch sử http://trannhuong.com/tin-tuc-15551/noi-bat-an-cua-lich-su.vhtm


Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

                                            TRÒ CHƠI TRỐN TÌM

            Từ nhỏ, tôi, chứng kiến cuộc sống cùng cực của mẹ và chị tôi, nên tôi từng nhủ với lòng là phải cố gắng học hành cho giỏi để lớn lên có thể giúp mẹ thoát được cảnh nghèo. Vì vậy, có những ngày mẹ tôi bán buôn ế ấm, chưa kịp mua gạo nấu cơm, tôi đành phải đi học mà bụng đói cồn cào, tôi vẫn mím chặt môi không dám than thở một lời. Cũng may, tôi là đứa học giỏi, luôn đứng đầu lớp từ thời tiểu học cho đến trung học, tôi lại rất giỏi văn, tôi quyết lòng thi đậu đại học văn chương, và ấp ủ  hoài bảo trở thành một nhà văn.
            Cuối năm học lớp 12, trong lúc tôi đang nôn nao chờ ngày tốt nghiệp và thi đại học, thì gia đình tôi lâm vào cảnh nợ nần, chủ nợ thường xuyên mắng chửi và đe dọa mẹ và chị gái của tôi. Khi mẹ tôi vừa khóc vừa nói nói với tôi là, mẹ không lo nổi cho tôi lên đại học, tôi cảm thấy chới với, nước mắt tuôn như mưa, vừa thương mẹ, vừa bị vở mộng, tôi có cảm giác như thế giới đang sụp đỗ trước mắt tôi. Ôi! Tội nghiệp cho tôi - đứa con gái 18 tuổi - làm được gì với sự khốn khó của gia đình không có đàn ông, từ lâu cha tôi  đã bỏ rơi mẹ và hai chị em tôi để đi theo người đàn bà khác. Tôi còn quá trẻ nên không đủ sức để quyết định số phận của mình - không có khả năng để theo đuổi ước mơ.
            Tôi cần một vị cứu tinh, hay nói đúng hơn tôi cần vị cứu tinh cho mẹ và chị tôi. Tôi mơ màng có một vị bồ tát đưa tay ra tưới những giọt nước cam lồ để cứu rỗi linh hồn tôi, nhưng chỉ có tiếng khóc của tôi dội ra từ trong lồng ngực. Tiếng khóc trong tuyệt vọng. Vậy mà không ai biết là tôi đang khóc. Tôi đờ đẩn đi trong khoảng không gian mênh mông mù mịt, giống như một thi thể không có linh hồn, không có sinh khí, không biết phải đi về đâu, không biết nơi đâu là bờ bến.
Tôi đi mãi, không có điểm dừng, cũng không có ai gọi tên tôi. Không có vị cứu tinh nào hết. Cái chết chợt xuất hiện trong đầu óc tôi. Nếu chết là giải thoát, thì chết có được không? Nếu được cho tôi còn mẹ tôi, chị tôi thì sao? Họ sẽ tiếp tục vất vả nhưng vẫn không thể trả hết nợ nần? Không, tôi không thể bỏ mặc họ, việc tôi có thể làm được trong lúc này là nghỉ học và tìm một việc làm.
Thế là, thi tốt nghiệp cấp ba xong, thay vì tôi đi thi đại học, thì tôi lại đi tìm một việc làm và trở thành cô thư ký cho một Công ty xuất nhập khẩu. Dù vậy, trong tôi vẫn luôn ấp ủ hoài bảo văn chương. Thỉnh thoảng tôi lại đến thư viện để đọc sách và tìm một chút yên lặng cho bản thân. Lúc tôi đọc bài thơ tuổi 18 của Khuê Việt Trường, 4 câu cuối làm cho tôi chạnh lòng, nên đã thuận tay viết mấy câu họa:
Em hãy đoán trước cổng trường ai đứng
Giọt sương nào sẽ rụng giữa đêm khuya
Mưa chiều nay chẳng giống những chiều xưa 
Em hãy đoán khi vừa mười tám tuổi 
Thơ họa:
Không ai đợi cổng trường mình em đứng
Giọt sương buồn lạnh lẽo giữa đêm khuya
Mưa chiều nay cũng khác mấy chiều xưa
Em bật khóc khi vừa mười tám tuổi
Đúng lúc đó, mãnh giấy của tôi bị làn gió của quạt máy bay đi mất, tôi cũng không màng tìm lại. Một người đàn ông nho nhã, tay cầm bài thơ đưa cho tôi, nói: “Thơ của cô phải không?”. Tôi miểng cưỡng nói “cám ơn”, người ấy lại nói “tuổi mười tám là tuổi có nhiều dự định cho tương lai, trông cô có vẻ lạnh lùng và chán nản quá vậy?”. Thế là tôi quen Tuấn Trình. Tuấn Trình hơn tôi 10 tuổi, là một nhà văn chuyên nghiệp, anh nói tôi có năng khiếu làm thơ. Thấy tôi chỉ cười buồn và không thích thú lắm với lời khen của mình, Tuấn Trình chẳng những không tự ái mà tiếp tục khuyến khích tôi.
Tuấn Trình đã có vợ ở dưới quê, anh ở một mình trong khu nhà trọ. Anh ấy nói với tôi, vợ anh ấy rất xinh đẹp nhưng cô ấy là một khúc gỗ, không có tâm hồn văn chương. Tôi không quan tâm vợ của Tuấn Trình là một người xinh đẹp hay chỉ là một khúc gỗ, nhưng tôi thích nói chuyện với anh ấy - đó là một sự thật. Thỉnh thoảng chúng tôi gặp nhau ở thư viện vào buổi tối. Dần về sau, chúng tôi đi uống nước nói chuyện với nhau rất hợp.
Có lần Tuấn Trình cho tôi xem bản thảo mới, ttruyện viết về một người đàn ông đã có vợ nhưng không được hạnh phúc “phải chăng đó là tâm sự của Tuấn Trình?”. Tôi còn quá trẻ để hiểu được thế nào là hạnh phúc, nhưng tôi có thể cảm nhận được Tuấn Trình đang thất vọng về hôn nhân của mình.
Tuấn Trình là một nhà văn nhưng làm thơ cũng rất hay, tôi không giỏi về thơ nhưng thỉnh thoảng cũng có thể trao đổi với anh ấy được. Anh nói không phải nhà văn nào cũng có bằng cấp đại học, cho nên tôi không nên quá thất vọng vì chưa thi đại học, tôi có sẳn năng khiếu nếu theo đuổi nghiệp văn chương thì tương lai sẽ trở thành một nhà văn có tên tuổi. Tôi không hy vọng lắm vào tương lai, nhưng tôi giữ liên lạc với Tuấn Trình và thỉnh thoảng cùng anh ấy ra ngoài uống nước hoặc đến nhà anh ấy để đọc truyện. Quen Tuấn Trình, trong lòng tôi có chút khởi sắc. Những sầu muộn cũng vơi dần. Những ngày tháng bên Tuấn Trình tôi nhận thấy mình trưởng thành hơn nhiều.
Tôi rất ngạc nhiên khi Tuấn Trình mời tôi ăn tối ở một nhà hàng nhỏ cặp bờ sông, anh ấy đã chuẩn bị sẳn bánh kem và hai đóa hồng, đó lại là ngày sinh nhật của tôi 19 tuổi. Tôi thật sự cảm động, vì đây là lần đầu tiên có người tổ chức sinh nhật cho tôi.Tôi hỏi sao anh tặng em hai hoa hồng, anh ấy nói hai hoa hồng có ý nghĩa “thế giới này chỉ có hai ta”. Tôi nhìn quanh. Nơi chúng tôi ngồi trong một cái tum bằng lá, cách biệt với những tum khác, cũng có thể nói là thế giới riêng của hai người. Tôi không biết nói gì, chỉ biết nhìn anh ấy với lời nói cảm ơn tận đáy lòng. Tôi chợt nghĩ “vợ anh ấy thật có phước”.
Tuấn Trình mở nhạc từ điện thoại của anh:
“Thuở ấy có em anh yêu cuộc đời
Yêu đôi môi hồng điểm nét son tươi
Yêu đôi tay ngà làn má thắm
Tóc xanh buông lả lơi
Nhớ em nhớ bao thuở ấy
Thuở ấy có em anh chưa từng sầu
Chưa đi âm thầm ngoài phố đêm thâu
Chưa mang hoang lạnh ngoài bến vắng
Hởi em em về đâu
Cho đời mình luôn nhớ nhau...”
“Bản nhạc này của Huỳnh Anh, nhiều người hát bản này nhưng anh nghe Đan Nguyên hát thì xúc cảm nhất”. Tuấn Trình nói.
 Thật vậy, lời hát thật quyến rũ, tràn đầy một thứ tình cảm nồng nàn, khiến người nghe bổng thấy rung động. Tuấn Trình nhìn tôi dịu dàng hỏi “em có lạnh không?”. Gió sông có làm tôi thấy lạnh nhưng tôi lắc đầu, không dám thú nhận. Vậy mà Tuấn Trình cũng nhận ra là tôi đang bị lạnh, anh di chuyển ngồi xuống cạnh tôi, rồi nói “để anh che gió cho em”. Sự va chạm nhẹ của Tuấn Trình vào vai tôi, một cảm giác kỳ lạ len lén vào lòng. Đột nhiên anh ôm lấy vai tôi nói: “Quyên à, anh muốn ở bên cạnh em để làm người che chở cho em!”
Tôi giật mình!
Trong tâm trí tôi, tôi ngưỡng mộ Tuấn Trình như một người thầy, người anh. Tôi chưa từng nghĩ sẽ thích một người đàn ông đã có vợ. Tôi hơi nhích ra nhưng Tuấn Trình càng ôm tôi chặt hơn “Quyên à, anh đã thích em ngay lần đầu gặp em, nhưng anh không dám tỏ bày cùng em”. Tôi lúng túng không biết làm gì, bổng tôi thốt lên: “Nhưng anh là người đã có vợ!” Tuấn Trình nới lỏng tay ra, đau đớn nhìn tôi rồi nói như bị nghẹn: “Anh xin lỗi”.
Mấy ngày sau, tôi không đến thư viện vì sợ gặp Tuấn Trình, nhưng trong lòng tôi thì lại rất muốn gặp anh ấy, sự mâu thuẩn đó làm tôi ngơ ngẩn, không thể nào tập trung vào một cái gì. Cuối cùng tôi cũng đến thư viện vào một sáng chủ nhật, quả nhiên Tuấn Trình cũng đến, anh nói, “xin lỗi em, hôm đó anh hơi đường đột, anh sẽ không như vậy nữa, đừng tránh mặt anh, được không?”. Giây phút đó, trái tim tôi dâng lên niềm thương cảm, một thứ tình cảm trước nay chưa từng có, tôi nói, “không có gì, em chỉ bị bất ngờ thôi, chúng ta vẫn như xưa mà”. Tuấn Trình cười vui vẻ, “mình đi về vườn của thằng bạn anh chơi đi, vợ chồng nó đi du lịch nước ngoài, nó nhờ anh thỉnh thoảng về đó cho nhà cửa không bị lạnh lẽo”.
Anh chở tôi đi bằng xe máy, rời xa thành phố về ngoại ô. Đến đầu con sông nhỏ, Tuấn Trình gửi xe lại ở một nhà dân, anh kéo tay tôi đi băng qua một cánh đồng, đến một khu vườn nhỏ trồng nhiều cây trái, được bao bọc bởi những bờ đê nhỏ dẫn nước từ sông vào. Quang cảnh nơi đây vừa đẹp vừa  mát mẻ, dành để nghĩ dưỡng thật là lý tưởng. Tôi vui quá không hay trời đã tối, lại không nở ra về, tôi đành gọi điện về xin phép mẹ ở lại nhà của một người bạn gái. Lần đầu tôi nói dối mẹ, cảm thấy hơi ngượng với Tuấn Trình.
Khi màn đêm buông xuống, sự yên tĩnh và không khí trong lành làm cho lòng người thanh thản. Ánh trăng rất đẹp, tỏa ánh sáng bàng bạc xuống mặt nước, lấp lánh như kim cương. Vẻ đẹp này khiến cho người ta mộng mị.
Tuấn Trình đột nhiên nhảy ùm xuống sông, vui vẻ gọi tôi: “Quyên, mau xuống đây đi!”. Tôi nhìn thấy trên mặt Tuấn Trình nở một nụ cười trong sáng, vô tư, cũng như dòng sông trong xanh, hiền hòa làm cho người ta có cảm giác nhẹ nhàng. Sau một chút lưỡng lự, tôi để nguyên quần áo nhảy xuống nước.
Dòng nước mát lạnh thấm vào người, tôi cảm thấy rất dễ chịu. Chiếc áo sơ mi bị nước làm cho ướt sủng dính chặt vào người, tôi ngoi lên ngụp xuống dưới ánh trăng mờ ảo.  Trong khung cảnh gió mát trăng thanh này, làm cho tôi quên đi tất cả muộn phiền. Tôi muốn thoát thai khỏi kiếp người hóa thân thành nàng tiên có cánh, tự do bay đi bất cứ nơi đâu, chiếc áo sơ mi bị ướt dính chặt vào người trở thành chướng ngại níu kéo cơ thể tôi.
Trong trạng thái mơ hồ, tôi từ từ cởi bớt nút áo. Tôi cảm nhận được làn nước đang nhẹ nhàng vuốt ve từng bộ phận trên cơ thể tôi. Lúc này tôi mới hiểu tại sao người nông thôn lại thích tắm sông như vậy. Tuấn Trình nhẹ nhàng bơi tới bên cạnh tôi, cẩn thận và dịu dàng ôm lấy tôi, giọng nói của anh êm ái vang lên “Quyên, anh yêu em”.
Chúng tôi ôm lấy nhau, dìu nhau lên bờ cỏ xanh. Đôi môi của Tuấn Trình lướt qua mắt tôi, tai tôi, cổ tôi, môi tôi... tôi cảm nhận hơi ấm từ đôi môi của anh truyền sang tôi. Anh vuốt nhẹ lên người tôi. Một cảm xúc kỳ lạ đầu đời con gái làm tôi rung lên. Trong cơn mê đắm bổng một giọng nói vang lên “ba của con vì mê người đàn bà khác mà bỏ bê mẹ con mình, sau này lớn lên con phải nhớ là đừng bao giờ quen với người đàn ông đã có vợ, đừng bao giờ làm người thứ ba phá nát gia can người ta”. Đó là tiếng của mẹ tôi - nó đã ăn sâu trong tiềm thức của tôi. Tôi thức tỉnh. Tôi nói: “Em không muốn làm người thứ ba”. Tôi đã từ chối Tuấn Trình.
Tôi quyết định không qua lại với Tuấn Trình nữa. Vì nếu còn qua lại tôi sợ rằng mình sẽ lún sâu, không thoát ra được lưới tình. Để trốn tránh tình cảm của Tuấn Trình tôi mở rộng tấm lòng với Hữu Thành, anh ấy hơn tôi ba tuổi, làm việc ở Phòng Kế hoạch cùng Công ty. Hữu Thành là người có dáng người cao to, khỏe mạnh, khuôn mặt xương, mũi cao, môi đỏ, da trắng, nói chung là “đẹp trai”. Hữu Thành xuất thân từ một gia đình nông thôn, anh lên thành phố học xong đại học rồi ở lại lập nghiệp. Anh là người hoạt bát nhưng không có chiều sâu. Tuy nhiên anh rất tốt với tôi, tốt đến mức tôi phải chấp nhận anh ấy. Cộng thêm sự khuyến khích của Mẹ và chị tôi. Mẹ tôi nói “con gái lấy chồng lựa người chung thủy, thằng Hữu Thành là mẫu người chung thủy, mẹ không nhìn lầm đâu”. Bạn bè tôi nói hai chúng tôi có vẻ như không xứng đôi. Một người quá đơn giản còn một người quá phong phú. Nhưng tôi vẫn lấy Hữu Thành. Năm đó tôi tròn 21 tuổi.
Sau đám cưới, Hữu Thành lúc nào cũng tràn trề hạnh phúc, còn tôi thì cảm thấy nghi hoặc mơ hồ. Anh yêu thương và chìu chuộng tôi hết lòng. Nhưng Anh chưa bao giờ đi được vào trái tim tôi. Anh không biết trong lòng tôi đang nghĩ gì, cũng không biết tôi cần gì. Sự quan tâm của anh thuộc về vật chất ở bên ngoài, không liên quan gì đến nội tâm.
Lập gia đình xong tôi vẫn tiếp tục học lớp đại học ngữ văn ban đêm, nếu không có sự khuyến khích của Tuấn Trình lúc trước, thì tôi đã không có đủ tinh thần để theo học lớp này. Tuấn trình đã nộp hồ sơ và đóng tiền học phí năm đầu tiên cho tôi. Ôi, nhắc lại Tuấn Trình thì có bao điều muốn nói, nhưng tôi sợ nhắc lại sẽ làm lòng tôi gợn sóng, phải chi Tuấn Trình là người độc thân, thì... có lẻ cuộc đời của tôi đã không giống bây giờ. Mối tình đầu tiên của tôi vẫn ở một góc sâu kín trong trái tim tôi.
Sống với Thành, tôi mới hiểu vì sao Tuấn Trình nói vợ anh ấy như một khúc gỗ không có tâm hồn văn chương. Thể xác của tôi thì thuộc về Hữu Thành, nhưng tâm hồn của tôi lại không nơi nương tựa. Tâm hồn tôi đôi khi lan man nhớ hai hoa hồng của Tuấn Trình tặng cho tôi trong lần sinh nhật 19 tuổi, nhớ khi Tuấn Trình che gió cho tôi, nhớ nụ hôn đầu tiên của Tuấn Trình ở bờ sông...những cảm giác khi ấy vẫn còn ngây ngất đến bây giờ, nhưng tôi đã từ chối anh để rồi hôm nay... mỗi lần nhớ đến là tim tôi có một chút gì đó xốn xang.
Có lẻ Hữu Thành quá chăm chúc cho tôi, tôi mặc nhiên hưởng thụ, hưởng thụ đến mức quá quen thuộc không còn có cảm giác gì. Hữu Thành vẫn yêu tôi say đắm, vẫn khao khát cơ thể tôi. Còn tôi không còn hứng thú với Hữu Thành, hay nói đúng hơn chưa bao giờ có hứng thú thật sự với anh ấy. Đêm tân hôn, anh ấy say mê tôi, còn tôi cho dù cố gắng đóng vai cô dâu nhưng cũng không có sự hòa hợp thật sự với anh ấy, chỉ đến khi anh ấy vào được trong tôi, tôi có cảm giác đau đớn và xen lẫn sự kích thích của thể xác, nhưng nó qua đi một cách nhanh chóng và cũng là lúc tôi chấm hết đời con gái. Tôi chính thức trở thành đàn bà. Một người đàn bà lạnh lùng và dửng dưng với tất cả, cho đến khi tôi gặp người ấy.
Tôi lang thang trong một nhà sách, vô tình đánh rơi vài quyển sách xuống sàn, trong lúc tôi cúi xuống để nhặt thì có người đến giúp tôi. Tôi ngẩng lên, bắt gặp đôi mắt to đang nhìn tôi, tôi lúng túng nói: “Cảm ơn”. Người ấy cười với tôi, một nụ cười ấm áp và quyến rũ đến mức xao xuyến lòng người, rồi nói “không có chi”. Sách được xếp vào kệ như cũ, người ấy hỏi tôi, “em có thấy quyển sách có tựa đề là: 10 điều tạo nên số phận, của tác gỉa David Simon hay không?”. Tôi lắc đầu. Người ấy nói tiếp, “anh đã đọc nó trên mạng rồi, rất hay”. Tôi hơi tò mò, “nếu đã đọc rồi sao còn đi tìm?”. Người ấy cười, “vì anh muốn tặng nó cho một ngời bạn”. Thì ra là vậy. Cuối cùng tôi đã giúp người ấy tìm được quyển sách đó. Người ấy có vẻ rất mừng, trên kệ còn ba quyển anh lấy hết, rồi chào tôi ra quầy tính tiền.
Khi ra cổng, tôi lại gặp người ấy. Anh không dồn dã nhưng ân cần đưa cho tôi quyển “10 điều tạo nên số phận,” và nói “tặng cho em đó”. Thấy tôi ngập ngừng, anh nói, “chỉ là muốn cảm ơn em đã giúp anh tìm được sách này”. Tôi cầm lấy, trong lòng suy nghĩ lung lắm “vì sao anh ta tặng sách cho mình, có ý đồ gì không?”. Tuy là tôi thích gương mặt đẹp trai và nụ cười lôi cuốn của người ấy, nhưng tôi vẫn làm ra vẻ lạnh lùng. Tôi định chào tạm biệt, người ấy lại nói: “Anh là Phi, anh có vinh dự được biết số điện thoại của em không?”. Rất điệu đàng. Tôi không muốn từ bỏ cơ hội được làm quen với Phi, hơn nữa là do anh ta chủ động trước. Trao đổi số điện thoại xong, chúng tôi chào tạm biệt nhau.
Vài ngày sau, Phi gọi cho tôi và hỏi tôi đã đọc xong quyển “10 điều tạo nên số phận” chưa, tôi nói đã đọc xong, anh hỏi tôi thích nhất chương nào, tôi nói thích nhất là chương nói về “bình yên”, Phi nói anh cũng thích chương này, nhất là đoạn tác giả đã nói về một “trò chơi trốn tìm” thời thơ bé. Anh nói, con nít ở quê anh thì gọi là chơi “năm mười” - vì khi chơi, phải bịt mắt và đếm “năm, mười, mười lăm, hai mươi...”, cho đến một trăm sau đó sẽ đi tìm người trốn. Còn người trốn thì cố “núp” cho thật kỹ. Nhưng nếu chờ lâu quá không thấy bạn phát hiện thì lại nhảy ra ngoài chỗ núp để gây sự chú ý, sau đó lại trốn tiếp, nếu bị phát hiện thì lại cười vui vẻ, nếu không bị phát hiện thì trong lòng rất lo sợ, sợ bị bỏ rơi. Thật kỳ lạ - một người tìm cách ẩn núp nhưng lại lo sợ bị bỏ quên - đó chính là một nghịch lý - mà tác giả nêu lên.
Thật trùng hợp, đây cũng là đoạn mà tôi có nhiều suy nghĩ về nó, vì lần đầu tôi biết được có một cách lý giải về tâm lý con người - thông qua một trò chơi nhân gian - mà lại mang tính triết lý thâm sâu như vậy.
Chúng tôi nói chuyện với nhau không dứt ra được. Phi nói, “máy anh sắp hết pin rồi, nhưng anh lại không muốn kết thúc lúc này, còn nhiều điều anh muốn nói nhưng chưa nói xong, em có thể cho anh một điều ước là được gặp em không?”. Khó mà từ chối một lời hẹn hò lãng mạn như vậy. Tối hôm đó tôi đi ra ngoài cùng với Phi. Chúng tôi đi bên nhau rất lâu, không biết đi qua biết bao nhiêu con đường, bao nhiêu khu phố. Cuối cùng chúng tôi dừng lại trong một công viên cạnh bờ sông. Phi nói “mấy ngày qua anh từng mơ ước được ở bên em, hôm nay đã thành sự thật, cảm ơn em đã cho anh được cái diểm phúc này”.
Không khí ở công viên thật trong lành, mang theo hương thơm thoang thoảng của cây cỏ. Tôi có cảm giác như đã tìm được một nơi chốn bình yên, và bờ vai của Phi đang sẳn sàng cho tôi dựa dẫm. Tôi trộm nhìn anh, anh như đọc được suy nghĩ của tôi, anh kéo nhẹ đầu tôi nghiêng vào vai anh, Nhưng tôi chợt ngồi thẳng người, sợ sệt và hoài nghi như một đứa trẻ gặp một người xa lạ.
“Em là một nàng công chúa rất dễ thương và hiền lành, ai nở bắt nạt em, mà em lại sợ?”. Không ngờ Phi có thể nhìn thấu tâm can của tôi. Anh lại nói “Cô bé khờ à, anh đã bắt được em rồi, đừng ra sức ẩn núp nữa”. Có hai cô gái đi ngang chúng tôi, các cô không ngần ngại mĩm cười với Phi, anh cười đáp trả một cách tự nhiên. Bất giác tôi nghiêng đầu vào vai anh, hai cô gái bỏ đi. Ánh mắt của Phi đăm đắm nhìn vào tôi, ánh mắt đó hút hồn tôi.
Tôi phát hiện ra, cánh cửa tình cảm bị đóng bao lâu giờ đã mở ra, giống như chim sổ lồng, cá ra đại dương, tôi không đắn đo gì nữa, nép sát người vào Phi. Phi nói, “em là người con gái tinh tế nhất, dịu dàng nhất mà anh từng gặp”. Tôi say giọng nói của anh, say ánh mắt của anh, say vòng tay của anh, say hơi ấm của anh. Tôi đã phải lòng Phi rồi.
“Em có giọng nói êm ái và quyến rũ, khiến cho người nghe bị mê hoặc, anh mê giọng nói của em”. Phi càng nói, tôi càng say. Bây giờ tôi mới hiểu vì sao người ta nói “phụ nữ yêu bằng tai”. Tôi không biết những gì Phi nói có thật lòng hay không, nhưng lời nói của Phi du dương bên tai tôi. Phi rất hiểu tôi, biết tôi cần gì. Phi xuất hiện đúng lúc như một vị thần tình yêu - và tôi đã yêu anh ngay lúc đó. Anh chính là người tình trong mơ ước của tôi.
Phi là kiến trúc sư làm việc tại một viện kiến trúc, anh đã có vợ, anh cũng biết tôi đã có chồng, nhưng chúng tôi không quan tâm đến điều đó, bởi vì chúng tôi cần có nhau. Tôi khao khát yêu và được yêu, Phi đã cho tôi biết yêu là như thế nào, nếu tôi từ chối Phi - có khác nào tôi từ chối chính bản thân mình. Tôi không muốn bị bỏ lại mãi mãi như trong trò chơi trốn tìm.
Phi bước vào thế giới của tôi mạnh mẽ đến mức tôi không thể kháng cự, anh nhanh chóng chiếm lĩnh toàn bộ trái tim tôi. Một ngày không gặp anh là nổi nhớ nhung làm tôi không thể tập trung vào một cái gì. Tình yêu bí mật giữa tôi và Phi ngày càng sâu đậm, ở bên Phi, tôi biết được sự  rung động của con tim là như thế nào. Tôi đã yêu Phi thật rồi.
Hữu Thành và Phi là hai con người hoàn toàn khác biệt. Hữu Thành lo lắng cho tôi đủ đầy về vật chất, cho tôi một mái ấm gia đình. Còn Phi chăm sóc cho tôi về tinh thần và tâm hồn. Tôi thấy mình hạnh phúc hoàn toàn. Tôi không thể thiếu hữu Thành và rất cần có Phi.
Tôi không thế thiếu Hữu Thành, vì anh là nơi chốn để tôi đi về. Thành là mẫu người chung thủy vô điều kiện, anh từng nói với tôi, “anh sẽ không bao giờ từ bỏ em - trừ phi là cái chết”. Trong mắt Hữu Thành tôi là một viên ngọc quý có một không hai. Điều này với tôi cũng rất quan trọng. Vì tôi biết được vị trí quan trọng của tôi trong lòng anh. Tôi không muốn từ bỏ vị trí cao quý đó. Nhưng Hữu Thành quá đơn giản và thực tế, anh chưa bao giờ chạm đến tâm hồn tôi, chưa bao giờ hiểu được tâm tư sâu kín của tôi. Nhưng cuộc sống đâu chỉ đơn điệu như thế, cuộc sống có những cung bậc khi trầm khi bổng, như một bản nhạc giao hưởng, làm cho người ta ngất ngây, say đắm.
Tôi cần có Phi, sự lãng mạn và ngọt ngào của Phi, mang đến cho tôi cảm giác hưởng thụ của người đàn bà hạnh phúc cả về thể xác lẫn tâm hồn. Không có Phi, cuộc sống của tôi ví như loài gấu miền bắc cực đi ngũ đông, tuy ngũ nhưng không chìm sâu vào giấc ngũ, tim vẫn đập và tâm hồn vẫn khao khát tình yêu. Nụ hôn của Phi đã chạm đến linh hồn tôi. Tôi lập tức đón nhận bằng tất cả tấm lòng.
Tôi bị bấn loạn khi biết mẹ tôi đã buộc chị hai của tôi phải chấm dứt mối tình với một người đàn ông đã có vợ. Chị tôi vốn dĩ là người con hiếu thảo, chị vô cùng đau khổ nhưng rồi cũng phải chia tay với người yêu. Cũng từ đó, tôi ít thấy chị cười, không thấy chị có bạn trai, trái tim của chị dường như đã chết, không biết đến bao giờ mới hồi sinh.
Tôi sợ một ngày nào đó, mẹ biết được chuyện của tôi với Phi, mẹ sẽ ngăn cấm tôi qua lại với Phi. Ôi, nổi ám ảnh về sự phụ bạc của người cha đã phù bóng đêm lên cuộc đời của hai chị em gái tôi.
Cha tôi là người đàn ông đã lừa dối mẹ và thiếu trách nhiệm với chị em tôi. Phi thì khác, Phi không lừa dối tôi, chúng tôi đến với nhau để tâm hồn chúng tôi có được một nơi chốn bình yên. Để cuộc sống của chúng tôi được sống tốt hơn. Tôi và Phi, không ai từ bỏ trách nhiệm gia đình. Không có Phi - tôi sống như một khúc gỗ không có linh hồn.
Cuối cùng tôi cũng nhận được bằng tốt nghiệp đại học ngữ văn. Tôi cầm tấm bằng trong tay mà nhớ Tuấn Trình. Không biết bây giờ anh ấy ra sao? Vẫn sống với người vợ “khúc gỗ” hay đã có một hạnh phúc tron vẹn. Dù sao, Tuấn Trình đã để lại trong tôi những cảm giác ngọt ngào đầu đời con gái. Bằng cấp đại học không phải là tiêu chuẩn để trở thành nhà văn, nhưng nó chứng minh được là tôi đã vượt qua thử thách của số phận, tôi cảm thấy tự tin hơn, tôi sẽ thực hiện ước mơ trở thành nhà văn của mình.
Hữu Thành vui mừng còn hơn cả tôi vui mừng. Anh đòi tổ chức một tiệc ăn mừng tại nhà. Chúng tôi chọn ngày chủ nhật. Hữu Thành mời mẹ tôi, chị tôi và một số bạn thời trung học của tôi. Anh không cho tôi làm gì cả, anh nói hôm nay là ngày đặc biệt của tôi, anh sẽ làm hết mọi việc kể cả việc nấu nướng. Hữu Thành nấu ăn còn giỏi hơn cả tôi.
Sáng sớm, Hữu Thành đã đi siêu thị để mua thức ăn. Tôi chỉ làm những công việc vặt vãnh và sửa soạn cho bản thân mình. Đến 9 giờ, Hữu Thành vẫn chưa về. Tôi bắt đầu sốt ruột, tôi điện thoại cho anh, tiếng chuông vang lên nhưng anh không bắt máy. Đến 9 giờ 30 mà anh vẫn chưa về. Làm sao mà nấu nướng kịp đây? Việc này không giống tính cách thường ngày của anh. Tôi đi đi lại lại, ngóng ra cửa. Tôi bắt đầu lo lắng. Thường ngày anh chạy xe rất nhanh, ngồi phía sau tôi luôn nhắc anh “chạy chậm thôi anh”. Chẳng lẻ có tai nạn, tôi vội lắc đầu không dám nghĩ tiếp nữa. Tôi muốn đi siêu thị để tìm anh, nhưng lại sợ mọi người đến nhà lại không có ai.
Đến 10 giờ, chị và mẹ tôi đến. Chị hỏi:
 “Sao có mình em ở nhà, Thành đâu?”
“Đi siêu thị từ sáng sớm mà đến giờ vẫn chưa về!” Tôi nói.
“Siêu thị gần ngay đây thôi mà, mua gì thì cũng khoảng một tiếng là xong,” mẹ tôi nói, “con có điện thoại cho Thành chưa?”
“Dạ, con có gọi, nhưng anh ấy không bắt máy”
“Hồi nảy chạy ngang siêu thị, thấy xe cộ đông lắm, người ta nói bị đụng xe, có khi nào....” chị tôi không nói hết câu. Tôi bắt đầu lo.
“Mẹ và chị coi nhà dùm con, để con ra đó xem thử”
Tôi không thay quần áo, cuống quýt ra khỏi nhà. Trước siêu thị, một đám đông đang vây quanh chiếc xe máy, tôi nhận ra chiếc dream màu đỏ của Hữu Thành, trên mặt đường còn đọng lại vài vết máu. Tôi hỏi một người lớn tuổi:
“Bác ơi, người bị đụng xe có phải là một người đàn ông cao lớn không?”
“Phải, một người bị thương nặng lắm, còn người kia đưa người đó đi bệnh viện rồi!”
Tôi lao vào phòng cấp cứu của bệnh viện, một y tá chặn tôi lại. Tôi vừa thở hổn hển vừa nói lắp bắp: “Chồng...chồng tôi bị đụng xe...đưa vào đây, có...nặng không?”
“Người mới vào hả? Nặng lắm!”. Rồi cô y tá nói tôi phải chờ ở bên ngoài, cấp cứu xong sẽ có thông báo.
Tay chân tôi run lẩy bẩy. Tôi vịn vào tường rồi ngồi ngã xuống ghế. Trước mắt tôi tối sầm. Nghĩ tới việc Hữu Thành, chồng tôi, từ bỏ tôi mà đi, tôi không thể tưởng tượng nổi cuộc sống của tôi ra sao? Không! Tôi không thể sống mà không có anh ấy. Giây phút đó tôi phát hiện ra Hữu Thành quan trọng với tôi tới mức nào.
Tôi gặp Hữu Thành vào lúc cuộc sống của tôi vô cùng khốn đốn, gia đình túng thiếu lại nợ nần, đồng lương ít ỏi của tôi không giúp gì cho mẹ tôi nhiều. Mọi hy vọng tiêu tan, hoài bảo sụp đổ. Lẫn tránh tình yêu của Tuấn Trình, trái tim của tôi trở nên lạnh lẽo, tâm hồn tôi dật dờ không nơi nương tựa.
Hữu Thành đã mở rộng tấm lòng, đã bao bọc tôi bằng tình yêu thương chân thật, anh làm điểm tựa vững chắc cho tôi. Anh sùng bái tôi như mọt nữ thần. Sự trân trọng và nâng niu của anh khiến tôi ngẩng cao đầu đi về phía trước. Nếu không có Hữu Thành, liệu tôi có được như ngày hôm nay?
Bấy lâu nay, Hữu Thành luôn chăm sóc cho tôi chu đáo từ việc nhỏ đến việc lớn. Chẳng những như vậy, mà anh đã cùng tôi trả hết nợ nần cho mẹ tôi, hiếu thảo với mẹ tôi, lo cho mẹ tôi có cuộc sống đầy đủ hơn xưa, cho nên mẹ tôi xem anh ấy như là con trai ruột vậy. Ngoài giờ đi làm, anh về lo hết công việc nhà để cho tôi có thời gian học hành. Vậy mà anh chưa bao giờ than thở, kể lể với bất cứ ai. Ngược lại tôi cho việc tận tâm, chu đáo của anh là điều đương nhiên, đương nhiên như không khí tôi đang thở mà không hề chú ý đến sự tồn tại của nó, không nhận ra rằng nếu một ngày không có không khí để thở thì không thể duy trì mạng sống. Tôi còn xem thường anh là người chỉ biết về vật chất bên ngoài, không có nội tâm. Đến bây giờ tôi mới hiểu câu nói “Khi một người sống trong cái tổ ong sẽ không nhận ra sự ngọt ngào của mật”. Đúng là tôi sống trong phước mà không biết. Hữu Thành luôn làm thế nào để đem lại những điều tốt lành nhất cho tôi, còn tôi là đứa vô tâm chỉ biết nhận mà không biết cho, tệ hại hơn là tôi không biết đủ.
Giờ đây có muộn màng không, khi tôi nhận ra Hữu Thành mới đúng là người tôi yêu, thì anh ấy đang gặp nguy hiểm, sống chết chưa rõ. Tôi không thể chịu nổi, nếu tôi chưa kịp báo đáp tình yêu của Hữu Thành thì Hữu Thành đã rời xa tôi vĩnh viễn. Trời ơi! Có phải đây là sự báo ứng cho sự thiếu chung thủy của tôi. Tôi thật đáng ghét.
Càng nghĩ, đầu óc tôi càng bấn loạn, nước mắt cứ trào ra.
Cánh cửa phòng cấp cứu bật mở. Một đám người nhốn nháo chạy ào đến. Người đàn bà vừa khóc vừa kêu “Nam, Nam con ơi...” rồi nắm tay cô y tá hỏi “cô ơi, con tôi có sao không?”. Cô y tá nói: “Bà bình tĩnh lại đi, nhờ đưa vô cấp cứu kịp thời, nên không còn nguy hiểm nữa, chờ phẩu thuật xong sẽ đưa ra phòng hồi sức”.
Qua màn nước mắt tôi thấy Hữu Thành trong đám người đó. Tôi đứng bật lên, miệng há hốc “đúng là Hữu Thành mà”. Hữu Thành nhận ra tôi, anh kêu lên “Quyên, sao em ở đây?”. Tôi nhào đến ôm chặt anh, “anh ơi, anh có làm sao không?”. Hữu Thành ngạc nhiên nói, “anh đâu có làm sao!”. Tôi nới tay ra, sờ vào mặt anh, tay anh “người ta nói anh bị xe đụng nặng lắm, ở trong phòng cấp cứu, nhưng sao anh lại...”. Anh bật cười, “không có đâu, là người khác, anh đưa anh ta vào bệnh viện”.
Thì ra lúc Hữu Thành đến trước cửa siêu thị nhìn thấy tai nạn, người lái taxi sợ quá bỏ chạy, anh báo công an, gọi xe cấp cứu rồi đưa người bị nạn vào đây, sau đó anh còn báo tin cho người nhà của nạn nhân, nên ở lại bệnh viện cho đến bây giờ.
“Em thấy chiếc xe của anh ở hiện trường, em tưởng...” tôi lắp bắp.
“Siêu thị gần nhà mình, gửi xe mất thời gian nên anh đi bộ, chiếc xe đó giống của anh thôi”.
“Trời! làm em hết hồn luôn, tưởng anh đã...”
“Vợ yêu ơi, anh sẽ không bao giờ bỏ em đâu, không có anh, ai sẽ lo cho em?”
Tôi bật khóc và ôm Hữu Thành, mặc cho mọi người xung quanh.
Bà mẹ của nạn nhân bước tới nói với Hữu Thành “Cậu trai trẻ, cậu đã cứu con tôi, nhà tôi chỉ có mình nó là con trai độc nhất, cả nhà tôi vô cùng cảm ơn anh”. Vợ con của nạn nhân cũng nói cảm ơn anh hết lời. Những người xung quanh nói mỗi người một câu: “Cậu ấy tốt lắm, đưa bệnh nhân vào rồi còn lăng xăng đi mua thuốc cấp cứu, ai cũng tưởng cậu ấy là anh em ruột của nạn nhân, hóa ra chỉ là người dưng. Cậu ấy tốt bụng thật”.
Tôi cảm thấy tự hào khi đứng bên cạnh Hữu Thành, ai nấy cũng nhìn anh bằng cặp mắt thán phục trước nghĩa cử cao đẹp của anh ấy. Hữu Thành là một người đàn ông có nghĩa khí. Nhìn những người thân của nạn nhân đối xử với Hữu Thành một cách tôn kính, tôi cảm thấy mình may mắn đã có một người chồng như anh, vậy mà bấy lâu nay tôi luôn cho rằng anh không phải là người đàn ông lý tưởng trong lòng tôi.
Điện thoại vang lên, là của chị tôi. Hữu Thành nói “Thôi chết rổi, hôm nay là ngày có ý nghĩa quan trọng của em, vậy mà anh ... làm trễ nãi hết, làm sao bây giờ?”. Mặt anh đỏ bừng, nhìn tôi mà ái nái. Tôi nói:
“Không có làm sao hết, dời lại bữa khác cũng được mà anh, điều quan trọng là hôm nay em vừa nhận ra hạnh phúc thật sự của cuộc đời mình”.
Có lẻ, Hữu Thành không hiểu hết những ý tứ trong lời nói của tôi, vì anh vốn là người đơn giản mà.
Bửa tiệc cũng được tổ chức vào buổi chiều và kéo dài cho đến tối. Tất nhiên câu chuyện của Hữu Thành làm cho mọi người yêu mến anh hơn, còn tôi thấy mình hãnh diện hơn. Khi mọi người ra về hết. Hữu Thành quá mệt mõi, anh ngũ quên trên ghế salon. Nhìn gương mặt đẹp trai và hiền lành của anh đang vô tư trong giấc ngũ, tôi dâng lên niềm thương cảm vô cùng.
Kết hôn với Hữu Thành, nhưng trái tim tôi lại chôn dấu tình yêu của Tuấn Trình, tôi đã từ chối Tuấn Trình chỉ vì tôi sợ hải sẽ có một kết quả không đáng có, nhưng tôi vẫn luôn khao khát có một tình yêu giống như Tuấn Trình đã dành cho tôi, vô tình tôi đã xem hình tượng của Tuấn Trình như một mẫu người người đàn ông lý tưởng.
Hữu Thành không giống Tuấn Trình - tôi thất vọng. Phi xuất hiện, Phi vừa có sự nồng nàn của Tuấn Trình, vừa có sự lãng mạn của một người đàn ông từng trãi, Phi đã làm cho tôi u mê - và tôi đã ngã vào vòng tay của anh.
Giờ đây tôi đã hiểu, một tình yêu thật sự - là sự hòa quyện của niềm vui, nổi buồn và sự chia sẻ. Tình yêu được thể hiện bằng nhiều cách khác nhau, không nhất thiết phải giống như Tuấn Trình hay là giống như Phi thì mới là tình yêu. Mặc dù Hữu Thành không nồng nàn như Tuấn Trình, không lãng mạn như Phi, nhưng anh đã dùng hành động thiết thực nhất, nhỏ nhặt nhất để chứng minh tình yêu của anh dành cho tôi, cho cả người thân của tôi. Đó là cách cho đi không cầu mong nhận lại của Hữu Thành. Tình yêu của anh mới thật sự là một tình yêu thiêng liêng.
Tôi biết người mà tôi nên yêu, nên trân trọng, đó chính là Hữu Thành, chồng tôi, chứ không phải là Tuấn Trình hay là Phi.
Có tin nhắn của Phi:
“Nghe tin em tốt nghiệp đại học, chắc là em đang vui mừng và hạnh phúc lắm. Hãy cho anh cái vinh dự được chia sẻ niềm vui với em. Anh chưa bao giờ thôi nhớ thương em”.
Phi luôn biết nói những lời ngọt ngào, ru ngũ lòng người. Anh là mẫu người tình lãng mạn của phụ nữ. nhưng hôm nay tôi không bị ru ngũ vì Phi, trái tim tôi đang hướng về Hữu Thành.
Phi không có tôi, anh sẽ có cô gái khác. Nhưng Hữu Thành không có tôi, anh sẽ không sống được, cũng như tôi - không có anh - tôi không thể nào tồn tại. Tôi và Hữu Thành là hai sinh linh đã định sẳn từ kiếp trước là sự hợp nhất - không thể tách rời nhau - trừ khi là cái chết.
Hữu Thành cựa mình, tôi dìu anh lên giường. Tôi cởi giày và quần áo cho anh. Tôi dùng khăn ấm lau mặt và lau người cho anh. Lần đầu tiên tôi ngắm cơ thể anh, một cơ thể cường tráng đầy sức sống. Cơ thể này chứa đựng một trái tim rộng lượng, bao dung và chung thủy. Trong trái tim đó - anh đặt tôi vào một vị trí rất quan trọng, vậy mà tôi từng xem thường vị trí đó. Thật là ngốc ngếch. Đắp chăn cho anh, tôi vào phòng tắm.
Vòi sen làm cho người tôi tỉnh táo và sảng khoái. Tôi mặc một chiếc áo ngũ bằng voan màu hồng thắm, ngồi vào bàn phấn, tôi xoa một ít kem dưỡng da. Khuôn mặt của tôi hiện lên trong gương, tuy có chút mệt mỏi nhưng vẫn tươi xinh, ánh mắt của tôi ngời sáng, mái tóc của tôi đen mượt, dài phủ lưng, ngực của tôi căng phồng. Tôi là một người đàn bà đã trưởng thành cả thể xác lẫn tâm hồn.
Bất ngờ Hữu Thành ôm tôi từ phía sau. Tôi nghe như có luồng điện chạy vào cơ thể. Lần đầu tiên tôi có cảm giác rung động khi Hữu Thành chạm vào tôi. Tôi xoay người, anh hôn tôi một cách nồng nàn. Chúng tôi ôm nhau như đôi tình nhân lần đầu yêu nhau. Đêm đó là đêm tân hôn thật sự của tôi với Hữu Thành.
Trái tim của tôi rộng mở đón nhận tình yêu của Hữu Thành.
Thì ra tình yêu rất đơn giản. Tình yêu là sự hòa hợp của hai con người về thể xác lẫn tâm hồn. Tôi đã làm cho tình yêu trở nên phức tạp, bởi sự khao khát của thể xác làm cho tư tưởng bị u mê đã vượt ra ngoài sự dẫn dắt của tâm hồn. Trong một thời gian dài tôi u mê trong một nghịch lý - bỏ ra nhiều thời gian đi tìm một người yêu thương tôi vô điều kiện - trong khi người đó đang ở bên tôi.
Một tuần sau đó, từ que xét nghiệm tôi biết mình đã có thai. Tình yêu của tôi với Hữu Thành được đơm hoa kết trái. Một sinh linh bé nhỏ đang tồn tại trong cơ thể tôi. Tôi lập tức điện thoại cho Hữu Thành. Anh đã reo lên như trúng số độc đắc. Lúc đó lại xuất hiện tin nhắn của Phi.
“Nổi nhớ thương em cứ làm cho anh trăn trở suốt mấy ngày qua. Mong là em đừng ẩn núp ở đâu quá kỹ. Hãy ra tín hiệu để anh tìm được em, để anh lại được ngắm nhìn nụ cười quyến rũ của em, được nghe giọng nói ngọt ngào của em. Anh rất mong được gặp em”.
Tôi đã không liên lạc với Phi suốt một tuần qua, kể từ ngày tôi hiểu lầm Hữu Thành bị tai nạn. Đã đến lúc tôi phải trả lời cho Phi.
“Em không còn phải ẩn mình và không còn sợ bị bỏ quên, vì em đã tìm thấy hạnh phúc thật sự của cuộc đời mình. Khi chúng ta gặp lại vẫn mĩm cười với nhau. Vì chúng ta đã có một hồi ức đẹp. Chúc anh hạnh phúc”.
Không biết những nhà văn đã bắt đầu trang viết đầu tiên của mình như thế nào? Còn tôi - trang viết đầu tiên của tôi - là sự trãi nghiệm về trò chơi trốn tìm - chính cuộc đời của tôi./.
Huyền Văn
(24/12/Noel 2013- 07/01/2014)