Thứ Năm, 18 tháng 10, 2012

DANH NGÔN VÀ DÂN NGÔN


            Huỳnh Văn Cát


         Trí thức được coi thực sự là trí thức, đó là kết quả của sự suy nghĩ, tìm tòi, chứ không phải là trí nhớ.
                                             Léon Tolstoi

          Tình cảm thực sự là tình cảm, đó là kết quả của yêu, thương, hờn, giận, tranh biện thực lòng, chứ không phải là lấy lòng.
                                             Huỳnh Văn Cát
   

Thứ Ba, 16 tháng 10, 2012

CÀ PHÊ MỘT MÌNH



                                     Lê Văn Bảy


                         Giọt cà phê đếm thời gian
                         Se se cái lạnh xuân sang đầu mùa
                         Ngập ngừng tiếng guốc ai khua
                         Mơ màng tôi tưởng em vừa tới nơi
                         Thì ra tiếng guốc của người
                         Còn em vẫn ở phương trời xa xôi
                         Một mình tôi với tôi thôi
                         Cà phê từng giọt rơi rơi hạt buồn.
                                     

Chủ Nhật, 14 tháng 10, 2012

BÀN VỀ BẤT ỔN TRONG ĐỀ THI VÀ ĐÁP ÁN MÔN NGỮ VĂN ...


        CÓ NHIỀU BẤT ỔN CẦN BÀN TRONG ĐỀ THI VÀ ĐÁP ÁN
        MÔN NGỮ VĂN, KÌ THI TUYỂN SINH VÀO LỚP 10 PTTH
        NĂM HỌC 2008-2009 CỦA SỞ GD-ĐT QUẢNG NAM

                                                                 Huỳnh Văn Cát

            
            Nhìn chung đề thi môn Ngữ Văn, kì thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT năm học 2008-2009 của SGD-ĐT tỉnh Quảng Nam tổ chức ngày 15/6/2009 đã qua sát với chương trình, phù hợp với trình độ học sinh. Có thể nói đây là một đề thi khá hay, nhưng vẫn còn một số điều bất ổn cần trao đổi.

1.      Chiền chiện có phải là từ láy không?

            Trích nguyên văn câu 5, phần trắc nghiệm: “Trong bài thơ Mùa Xuân Nho Nhỏ (Thanh Hải), từ nào không phải là từ láy?
            a. Long lanh     b. Hối hả     c. Xôn xao       d. Chiền chiện”

            Câu hỏi trên khá phức tạp đối với các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học Tiếng Viêt hiện đại. Bởi vì họ đưa ra nhiều quan điểm khác nhau. Theo cách hiểu của Việt ngữ học hiện đại mà giáo sư Hoàng Tuệ là người đại diện thì chiền chiện, ba ba, đu đủ, thuồng luồng... là từ láy. Bởi vì theo quan điểm của họ “từ láy là từ phức có sự hòa phối âm thanh”. Nhưng theo Đỗ Hữu Châu thì các từ trên không phải là từ láy. Vì theo theo nhà ngôn ngữ học này: từ láy phải có hai đặc tính: Phải có hình vị gốc có nghĩa và có sự hòa phối âm thanh.

            Theo quan niện của Bộ giáo dục và đào tạo Việt Nam : “ Đứng trước tình hình chưa có sự nhất trí giữa các nhà khoa học, giải pháp cuả  sgk Ngừ văn là một mặt thừa nhận quan niệm rộng về từ láy đã được trình bày ở định nghĩa về từ láy ở sgk ngữ văn 6, bao gồm cả từ láy có tiếng gốc có nghĩa và từ láy không có tiếng gốc có nghĩa, đồng thời khi trình bày nghĩa của từ láy có chú trọng nhiều hơn đến từ láy có tiếng gốc có nghĩa”. (Sách GV 7, tập 1, trang 49-50).

            Dựa vào sgk thì đây là một câu hỏi khá đơn giản đối với thí sinh. Chiền chiện là một từ láy, vì chiền + chiện = chiền chiện, hai tiếng “chiền”“chiện” đều không có nghĩa kết hơp lại với nhau do sự hòa phối âm thanh tạo ra từ “chiền chiện” chỉ một loài chim nhỏ hơn chim sẻ sống ở đồng ruộng hay bãi quang đãng, khi hót vút lên cao nên tiếng hót vang xa. Và trong Từ điển từ láy tiếng Việt của Hoàng Văn Hành cũng ghi rõ các danh từ chỉ loài vật như: chiền chiện, chích chòe, ba ba, thuồng luồng, chào mào … đều là những từ láy.

            Như vậy bốn từ: long lanh, hối hả, xôn xao, chiền chiện đều là từ láy. Thế thì câu trắc nghiệm trên không có đáp án. Nói theo ngôn ngữ toán học thì đây là một phương trình vô nghiệm.
    
            2.Từ vai (áo) chuyển nghĩa theo phương thức nào? ẩn dụ hay hoán dụ?

            Trích nguyên văn câu 1a phần tự luận:
                   “Áo anh rách vai
                     Quần tôi có vài mảnh vá
                     Miệng cười buốt giá
                     Chân không giày
                     Thương nhau tay nắm lấy bàn tay”
                                ( Trích bài thơ “ Đồng Chí” của Chính Hữu)

a. Trong các từ vai, miệng, chân, tay ở đoạn thơ trên, từ nào được dùng theo nghĩa chuyển? Nghĩa chuyển đó được hình thành theo phương thức ẩn dụ hay hoán dụ?
            Đây là một câu hỏi thuộc dạng nhận biết khá hay. Nếu thí sinh không phân biệt được ẩn dụ và hoán dụ ngôn ngữ học (phát triển từ vựng) với ẩn dụ và hoán dụ tu từ học (ẩn dụ lời nói- nhằm làm tăng sức gợi hình, gợi cảm cho sự diễn đạt), thì khó có câu trả lời đúng.

           Bởi vì “ Điều quan trọng cần phân biệt là: tuy là hiện tượng gọi tên sự vật nầy, hiện tượng nầy bằng tên sự vật khác, hiện tượng khác có nét tương đồng (ẩn dụ) hoặc quan hệ tương cận (hoán dụ). Nhưng ẩn dụ tu từ và hoán dụ tu từ (các biện pháp tu từ) chỉ làm xuất hiện nghĩa lâm thời của từ ngữ, còn ẩn dụ từ vựng và hoán dụ từ vựng (các phương thức phát triển nghĩa của từ ngữ) làm cho từ ngữ có thêm nghĩa chuyển, nghĩa nầy được đông đảo người bản xứ thừa nhận. Vì thế có thể giải thích được trong từ điển” (sách giáo viên 9, tập 1, trang 54).

            Như vậy, muốn biết từ vai (áo) chuyển nghĩa theo phương thức nào thì ta phải đặt nghĩa của nó trong mối quan hệ với nghĩa chính vai (người) và các nghĩa chuyển khác.
             Vai (người) nghĩa chính: phần cơ thể nối liền hai cánh tay(hoặc hai chi trước của thú vật) với thân
           Vai với các nghĩa chuyển:
            Vai của con người là biểu tượng của  thứ bậc trên dưới trong quan hệ gia đình, họ hàng: vai chú, vai anh, vai cháu, vai con...
             Vai là bộ phận của áo, phần nối liền giữa hai tay áo với thân áo nằm chổ vai người.
           Vai là nhân vật trong kịch bản được diễn viên thể hiện trên sân khấu hoặc trong phim(vai chính, vai phụ).

            Nếu nghĩa chính và nghĩa chuyển quan hệ tương đồng thì nghĩa của từ đó chuyển theo phương thức ẩn dụ.

            Nếu nghĩa chính và nghĩa chuyển có quan hệ tương cận thì nghĩa của từ đó chuyển theo phương thức hoán dụ.

            Dựa vào qui luật nói trên thì từ vai( người) và từ vai áo có nét tương đồng: bộ phận nối kết giữa tay và thân. Do đó vai (áo) chuyển theo phương thức ẩn dụ. các từ vai(nhân vật) vai(anh, chị..) chuyển theo phương thức hoán dụ.

            Bài tập nầy có trong bài tổng kết từ vựng( sgk NV9 ttrang 158) và được sgv giải là hoán dụ. Đó là một lời giải sai.

            Vốn tính hiếu tri của một thầy giáo yêu nghề và có trách nhiệm chuyên môn, tôi trao đổi trực tiếp với anh Quang (SGD-ĐT QN) qua điện thoại. Anh Quang trả lời: từ chiền chiện không phải là từ láy vì đây là một danh từ.

            Nếu xét về phương thức cấu tạo từ TV (trừ các từ phiên âm có gốc Ấn Âu) thì chỉ có hai loại từ ghép và từ láy. Chẳng lẽ chiền chiện lại là từ ghép, bởi vì nó không phải là từ láy. Có thể khẳng định đó là một câu trắc nghiêm bất ổn, vì cả bốn từ: long lanh, hối hả, xôn xao, chiền chiện đều là từ láy.

            Từ vai chuyển nghĩa theo phương thức nào? Anh Quang khẳng định từ vai chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ với ba lí do:
            - Từ vai(áo) thay thế cho cả cái áo, nói rách vai là nói rách áo.
            - Sgv giải như vậy thì ta phaỉ theo sgv.
            - Mặt bằng chung của giáo viên hiện nay ai cũng dạy từ vai chuyển nghĩa theo phương thức hoán dụ.

            Tôi thấy lập luận của anh Quang không vững chắc, ba lí do trên không có sức thuyết phuc vì mấy lẽ sau đây:

            -Xét về  mặt khoa học thì đáp án không có cơ sở vững  chắc. Vì khi xác định một từ nào đó là từ láy hay từ ghép, ta dựa vào phương thức cấu tạo của từ đó (ghép hay láy) chứ không phải dựa vào từ loại (danh từ,động từ tính từ). Vì khi xét một từ nào đó chuyển nghĩa theo phương thức ẩn dụ hay hoán dụ, ta dựa trên mối quan hệ giữa nghĩa chính và nghĩa chuyển của từ nhiều nghĩa( chỉ nhiều khái niệm). Các nghĩa đó được ghi trong từ điển Tiếng Việt, chớ không đặt nghĩa của từ đó trong mối quan hệ với người nói (giả dụ người nói có dụng ý dùng áo rách vai để nói thay cho cả chiếc áo rách đi nữa thì đó cũng chỉ là nghĩa phát sinh trong ngữ cảnh chứ không phaỉ là nghĩa chuyển, nghĩa phaí sinh từ nghĩa chính.

            Sgk cũng như sgv môn NV( các bậc học) hiện hành vẫn có những sai sót cần hiệu đính. Tôi xin đơn cử một trường hợp để làm bằng chứng: Câu 2 trang 86 NV9, tập 1- “thống kê những từ ghép là là tính từ, danh từ, động từ (gần xa, yến anh, chị em, tài tử, nô nức, dập dìu...). Đúng ra sgk phải thống kê những từ phức. Vì nô nức dập dìu không phỉ là từ ghép.

           Tôi khẳng định sgv đã giải sai bài tập trong đề thi trên.  

            Không thể nói đa số giáo viên dạy theo cái sai của sgv gọi là mặt bằng chung. (Mà chưa chắc giáo viên dạy sai như sách một cách mù quáng).  Phần đông giáo viên dạy sai theo sách, phần đông học sinh làm bài sai như sách mà người ra đề cho là học sinh đó làm bài đúng và đạt điểm tối đa, trong khi một số ít giáo viên có bản lĩnh sư phạm dạy đúng, một số ít học sinh làm bài đúng thì bị điểm (0).
            Một cái đáp án sai thì không thể đánh giá chính xác, công bằng chất lượng học tập của thí sinh.

            Với trách nhiệm của một thầy giáo dạy NV đối với sự nghiệp giáo dục nước nhà, tôi thấy đề thi sai, đáp án sai có sự liên quan đến nhiều vấn đề quan trọng khác.

            Về mặt khoa học thì chân lí khách quan phải rạch ròi đúng sai, không thể có cái chân lí lập lờ đánh lận con đen theo ý kiến bầy đàn, theo ý chủ quan của người có quyền hạn chuyên môn.

            Về phía học trò, kì thi tuyển sinh vào lớp 10PTTH là một kì thi vô cùng quan trọng, kì thi quyết định số phận thí sinh học ở trường nào, chỉ cần chênh nhau 0,25đ, là thí sinh đó vào trường công lập., bán công hay tư thục.

           Do đó tôi đề nghị SGD-đT QN nên xem xét lại đề thi và đáp án trên.

      (Huỳnh Văn Cát - Giáo viên trường THCS Mĩ Hòa- Đại Lộc)

           Mùa thi năm 2009

TB
Văn bản trên đã được gởi SGD-ĐT QN,qua đường bưu điện, trước ngày triên khai đáp án ở các Hội đồng chấm thi của kì thi năm ấy. Đáp án không được điều chỉnh và đến nay tôi vẫn chưa có lời hồi đáp.

Nhân dịp cả nước sôi nổi bàn về giáo dục, tôi đăng bài này lên blog  để góp phần xây dựng.

Mời đọc bài liên quan: BẤM VÀO ĐÂY



Thứ Tư, 3 tháng 10, 2012

ĐÀN ÔNG CẦN GÌ ?


     (không rõ tác giả)

Điều làm đàn ông không chịu nổi là sự lảm nhảm của người vợ, nước mắt của người tình và sự hiểu lầm của hồng nhan tri kỷ. Đàn ông cả đời đi tìm không phải vợ, cũng không phải người tình mà là hồng nhan tri kỷ.

Thế nào là vợ? Là người con gái mà bạn tình nguyện giao cả gia tài cho cô ấy cất giữ. Thế nào là người tình? Là người con gái mà bạn hẹn hò vụng trộm với cô ấy và sợ vợ phát hiện. Thế nào là hồng nhan tri kỷ? Là người con gái mà bạn có thể nói với cô ấy tất cả mọi bí mật, kể cả điều mà bạn không thể nói được với vợ hay người tình.
Vợ là một sự ràng buộc, ràng buộc bạn không thể tùy tiện cặp bồ với một người con gái khác. Người tình là một sự bù đắp, bù đắp cho bạn những tình cảm mãnh liệt mà ở người vợ còn thiếu hoặc bạn không tìm được ở người vợ. Hồng nhan tri kỷ là sự chỉ rõ, chỉ rõ sự mê say trong trái tim bạn.
Vợ sống cùng bạn từng ngày, người tình tiêu tiền cùng bạn, hồng nhan tri kỷ nói chuyện cùng bạn. Vợ không thể thay thế người tình, vì vợ không điều khiển được tình cảm như người tình. Người tình không thể thay thế vợ, vì người tình không có được tình thân như vợ. Vợ và người tình đều không thay thế được hồng nhan tri kỷ, vì đó nhu cầu của tâm linh.
Vợ là người con gái không hề có chút quan hệ máu mủ nào với bạn nhưng lại bồn chồn mong nhớ mỗi khi màn đêm đã xuống mà bạn chưa về nhà. Người tình là người con gái không hề có chút quan hệ gia đình với bạn nhưng lại làm cho bạn thỏa mãn mùi vị ái tình của đấng nam giới. Hồng nhan tri kỷ là người con gái chẳng có quan hệ gì với bạn nhưng lại có thể chia sẻ cùng bạn những vui buồn phiền muộn.
Vợ là một ngôi nhà, là một bến cảng mang cho trái tim nông nổi của bạn sự vỗ về an ủi. Người tình là gánh nặng của ngôi nhà, chẳng qua chưa đến nỗi vạn bất đắc kỷ, bạn không muốn vứt bỏ. Hồng nhan tri kỷ là vật tô điểm cho ngôi nhà, không có cô ấy bạn không thấy cô đơn, nhưng bạn sẽ cảm thấy cuộc sống chẳng có ý nghĩa gì.
Sự quan tâm của người vợ như một ly nước lọc, có lúc trở thành sự lảm nhảm, chỉ khi bị ốm mới trở thành sự ôn hòa. Sự quan tâm của người tình như cốc nước lọc đó bỏ thêm chút đường, dần dần qua một đêm rồi mà vẫn chưa thỏa mãn. Sự quan tâm của hồng nhan tri kỷ giống như cốc cafe khi bạn đang làm việc lúc nửa đêm, càng uống càng tỉnh.
Khi vợ có bầu thì sẽ hỏi bạn muốn có con gái hay con trai một cách rất tình cảm. Khi người tình có bầu với bạn thì sẽ khóc và hỏi bạn phải làm sao bây giờ? Đối với hồng nhan tri kỷ, bạn sẽ kể cho cô ấy nghe chuyện người tình của bạn có bầu và sẽ hỏi cô ấy bạn nên làm thế nào. Ngay đối với người vợ, chỉ sau khi bị cô ấy phát hiện bạn mới nói rằng "Thật ra, anh đã muốn nói với em sớm hơn" sau đó cố gắng hết sức để giải thích, và giả bộ rất đáng thương.
Khi vợ về nhà mẹ đẻ một tuần không quay lại bạn cũng không thấy nhớ. Khi người tình mới 3 ngày không gặp bạn liền gọi điện cho cô ấy: Em đi đâu đó? Tối nay chúng mình đến nơi cũ uống cafe được không? Khi trong lòng cảm thấy buồn khổ, bạn chỉ muốn tìm hồng nhan tri kỷ để trò chuyện, nói với cô ấy chuyện vận mệnh của bạn giữa vợ và người tình, thực tế không thể chịu đựng được nữa.
Điều làm đàn ông không chịu nổi đó là sự lảm nhảm của người vợ, nước mắt của người tình và sự hiểu lầm của hồng nhan tri kỷ. Sự lảm nhảm của người vợ làm đàn ông thấy đã rối cả lòng lại càng thêm rối hơn, nước mắt của người tình làm cho trái tim của đàn ông mềm yếu hơn, sự hiểu lầm của hồng nhan tri kỷ làm cho đàn ông thấy bị tổn thương, hụt hẫng.
Người vợ tốt nhất là người mà đàn ông có thể tìm thấy ở cô ấy người tình và hồng nhan tri kỷ, chỉ là cảm giác thôi mà đàn ông khó có thể tìm thấy. Người tình tốt nhất là người mà khi mối quan hệ của bạn và cô ấy bị vợ bạn phát hiện, cô ấy sẽ chủ động rút lui mà không có một yêu cầu gì hết, nhưng khó mà tìm được điểm này của người tình. Hồng nhan tri kỷ tốt nhất là người đến một ngày nào đó sẽ trở thành người tình, thậm chí thành vợ của bạn, chỉ là cái suy nghĩ này chẳng có chút hiện thực gì cả.
Nếu như có thể, đàn ông rất muốn biến hồng nhan tri kỷ thành người tình, nếu có thể nữa thì sẽ muốn cô ấy thành người vợ. Nhưng nếu hồng nhan tri kỷ trở thành vợ rồi thì sẽ không còn là tri kỷ nữa, bởi vì rất ít đàn ông muốn biến vợ thành tri kỷ. Trái tim đàn ông có rất nhiều bí mật không thể tùy tiện nói cho vợ nghe, không thế thì làm sao gọi là đàn ông nữa.
Lấy vợ là vì sợ người khác nói ra nói vào, tìm một người tình là vì muốn thêm chút gia vị vào để điều chỉnh cái cuộc sống tẻ nhạt, muốn có hồng nhan tri kỷ vì muốn tưới cho tâm hồn trống rỗng của họ một chút canh tươi. Đàn ông cả đời đi tìm không phải là vợ, cũng không phải là người tình mà là hồng nhan tri kỷ.

Chủ Nhật, 30 tháng 9, 2012

VÀI NÉT SƠ LƯỢC VỀ HỌC BỔNG BƯU TIẾP

                 Huỳnh Văn Cát 


              

Nhà giáo  Huỳnh Văn Cát  trao HB Bửu Tiếp  tại trường THCS  Mỹ Hòa

     Bửu Tiếp quê ở Thừa Thiên Huế là một nhà cách mạng thuôc thế hê. lão thành, Ông sinh ra trong một gia đình quí tộc thuôc dòng họ hoàng gia triều Nguyễn, Kể theo thứ bậc trong hoàng tộc vương triều Nguyễn: Miên, Hồng, Ưng, Bửu, Vĩnh thì ông là chú của hoàng đế Bảo Đại, vị vua cuối cuối cùng của chể độ phong kiến VN.

            Ông tham gia cách mạng vào thời kì Tiền khởi nghĩa ,là đồng chí và cũng là bạn thân của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Sau CM Tháng Tám 1945, ông là cán bộ trung ương phụ trách công tác bình dân học vụ của Bộ Giáo dục nước Việt Nam Dân Chủ Cọng Hòa. Ông đã hi sinh  trong thời kháng chiến chống Pháp và được nhà nước CHXHCN Việt Nam phong tặng danh hiệu LS.

            Lúc sinh thời, Liệt sĩ Bửu Tiếp có nguyện vọng  : muốn góp phần xây dựng nền giáo dục nước nhà bằng cách sử dụng tài sản của gia đình mình cấp HB cho những học sinh nghèo hiếu học.

            Bác sĩ Vĩnh Toàn, người con trai duy nhất của người Liệt sĩ trọn đời vì sự nghiệp giáo dục đó, đã thực hiện nguyện ước cao cả của đấng sinh thành. Trước khi từ trần (mùa hè, 2010), bác sĩ Vĩnh Toàn có lời dặn dò phu nhân, bà giáo sư Trần Thị Phương Lan (Cựu Gs Anh văn Trường Trần Quí Cáp Hội An, cựu Giảng viên Đai học sư phạm Sài gòn_trước 1975 ). Theo lời dặn của ông Vĩnh Toàn thì một phần sản nghiệp của gia đình ông đươc giao lại cho bà Phương Lan làm quỹ học bổng Bưu Tiếp.

            Sau đám tang bác sĩ Vĩnh Toàn vài tháng thì giáo sư Trần Thị Phương Lan lâm trọng bệnh và bà đã qua đời tại bệnh viện Chợ Rẫy ( Sài Gòn). Trước lúc lâm chung, bà trao lại cho người học trò tâm phúc, Thạc sĩ Phan Xuân Anh,( lớp 12c TQC-H A) số tài khoản cũng như chương trình và kế hoạch phát học bổng.

            Thưc hiện sở nguyện của liệt sĩ Bửu Tiếp, lời dặn của bác sĩ Vĩnh Toàn và lời di huấn của giáo sư Phương Lan(người thầy học đáng kính), Thạc sĩ Phan Xuân Anh cùng với các bạn học sinh lóp 12c TQC- HA, trước 1975 như thầy giáo Huỳnh Văn Cát, thầy giáo Huỳnh Văn Em, thầy giáo Lê Kiệt và một số bạn đồng song khác đã phát học bỗng Bửu Tiếp cho các trường trong tỉnh Quảng Nam (nơi có các bạn học sinh lớp 12c TQC do cô Phương Lan làm giáo sư cố vấn  hiện đang công tác trong ngành giáo dục) từ năm học cuối năm hoc 2010 - 2011 đến nay,

Học bổng được phát hằng năm – vào đầu hoặc cuối năm học.
            Chương trình HB Bửu Tiếp đã góp một phần nhỏ nhưng đầy ý nghĩa với phong trào khuyến học trên phạm vi cả nước.

                                                           Giao Thủy 28. 9. 2012

Thứ Bảy, 15 tháng 9, 2012

TIẾNG VIỆT NGHÈO, GIÀU?


                                                    Huỳnh Văn Cát

          
Với lòng tự hào, tự tôn dân tộc, có nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà ngôn ngữ học gạo cội của con LẠC  cháu HỒNG đã từng nói và minh chứng hùng hồn Tiếng Việt chúng ta giàu và đẹp. Điều nầy không ai dám phản bác, vì đó là sự thật.

          Tiếng Việt giàu:

          Nói về  năm màu trắng, đen, vàng, xanh, đỏ, tiếng Pháp có một số từ tương ứng: blanc, noire, jaune, bleu- vert, rouge Tiếng Anh tươg ứng với một số từ tương đương: white, black, yelow, green, red.
Còn Tiếng Việt thì vô cùng phong phú :
Trắng thì có: Trắng, trắng tinh, trắng nõn, trắng toát, trăng trắng, trắng bóc, trắng bong, trắng bốp, trắng dã, trắng hếu, trắng muốt, trắng ngà, trắng ngần, trắng phau, trắng phếu, trắng trong , trắng xóa...
           Đen thì có: đen đủi, đen giòn, đen đúa, đen hắc, đen kịt, đen lánh, đen nhánh, đen ngòm, đen thiu...
           Vàng có: vàng tươi, vàng giòn , vàng khè, vàng vọt...
           Xanh thì: xanh lơ , xanh lét, xanh xao, xanh xanh, xanh ngắt, xanh um...
           Đỏ thì: đỏ chót , đỏ choét, đỏ lòm, đỏ ngầu...

          Đó là chưa kể đến các từ mượn có nguồn gốc từ bọn phong kiến phương Bắc: bạch, bạc; hắc, ô; hoàng, huỳnh; thanh ; hồng, hường…

             Tiếng Việt đẹp:

          Về âm thanh, trong giao tiếp bình thường, lời nói  luôn luôn có nhạc điệu lên bỗng xuống trầm như cung thương làu bậc ngũ âm (ND).

          Về kí tự, TV được viết theo mẫu tự Latin, chữ Việt, nói khiêm tốn, đẹp như chữ Anh, Pháp, Bồ, Tây; nói trung thực, chữ Việt đẹp hơn mọi thứ chữ văn minh trên trái đất nầy bởi những dấu thanh.

          Từ một ngôn ngữ nghèo nàn, chưa tới  ba mươi phần trăm từ thuần Việt, vươn lên thành ngôn ngữ  đại gia là nhờ ta biết mượn mà không trả, biết Việt hóa ngôn ngữ ngoại lai thành ngôn ngữ dân tộc bằng cách phát âm thuần Việt. Để từ đó ta linh hoạt sử dụng có hiệu quả thẩm mĩ cao, hoặc hiệu quả dung tục cao trong từng ngữ cảnh cụ thể.

          Chẳng hạn như khi gọi tên cái bộ phận chỉ giới tính loài người, lúc hai giống đực và cái trong nhau, thì gọi đúng tên cái ấy  và hoạt động của hai cái ấy bằng từ thuần Việt, thì sự hưng phấn tăng theo cấp số nhân. Lúc trần truồng thì phải trần trụi mới hợp cảnh, hợp  tình và hợp lí. Cái lúc ấy mà đem lớp từ HV ra mà sử dụng thì thật là vô duyên.

          Khi một thầy giáo sinh học đóng bộ complet lên bục giảng các bài liên quan đến hệ sinh sản thì từ ngữ lại hiện lên một sắc thái trang trọng như một nhà mô phạm. Cũng những cái bộ phận ấy nhưng gọi nó bằng những thuật ngữ chuyên ngành: âm...dương... giao...

                  Tiếng Việt giàu đẹp bởi sự đa dạng, phong phú và tế nhị như vậy chứng tỏ người Việt ta thông minh và lịch lãm. 

           Tiếng Việt giàu và đẹp nhưng Tiếng Việt vẫn còn nghèo và xấu.

                                                                                  ( Còn nữa)

                                                   G T,  một đêm mưa tháng chín 2012
    
      

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

LÒNG TỰ TRỌNG


       Huỳnh Văn Cát

Với bản thân, gia đình, đất nước, thế giới, cộng đồng hẹp và rộng, lòng tự trọng vĩnh hằng để mọi mối quan hệ đươc giao hòa bền chặt và tương kính.

Tự trọng: coi trọng và giữ gìn phẩm cách của mình. Nếu mình biết coi trọng và giữ gìn phẩm cách thì không ai dám xem thường mình được (Từ điển TV 1997, Trung tâm từ điển điển học, nxb Đà Nẵng, trang 1041).

          Thế mà trên đời  này, có nhiều kẻ dựa vào chức, quyền, tiền bạc để buộc người ta tôn vinh mình lên tận mây xanh. Chẳng hạn như ông Nguyễn Quang Thèo, Huỳnh Quang Thọt...

          Thẹo dỡ trò  mệnh danh thơ ca thời hậu hiện đại để lừa mị thiên hạ .

          Thọt bày trò thần linh mượn bút viết “Thi Vân Yên Tử” để đánh bóng mình.

          Thỉnh thiếu kiến thức khen thơ nhái hết lời để bia miệng ngàn năm, để thiên hạ có một trận cười rách lổ ...

          Nếu các ông ấy có lòng tự trọng và không coi thường thiên hạ mà biết dừng lại ở chốn trà dư tửu hậu thì không ai thèm nói làm gì. Đằng nầy các ông giương giương tự đắc, cứ nghĩ rằng mục hạ vô nhân, ỷ trong tay có chức có quyền có tiền có bạc, tôn vinh nhau rồi đem mộc nhà nước đóng vào với danh hiệu nọ danh hiệu kia để lòe thiên hạ. Các vị ấy chỉ dối được Đảng, gian được nhà nước, chớ làm sao lừa được dân, người chủ của đất nước CON LẠC CHÁU HỒNG.

          Với đặc trưng của nghiệp nghề, người ta có thể chấp nhận: nghề chính trị phải dùng thủ đoạn để chiến thắng kẻ thù, để quốc thái dân an, nhưng người ta không bao giờ chấp nhận nghiệp văn chương mưu mẹo để lập lờ đánh lận con đen, để mang tập thơ “chuyển ngữ” văn xuôi thành văn vần đi dự giải Nobel văn chương.
         
          Quần chúng nhân dân là tấm gương soi bốn mặt, hãy nhìn vào đó để biết dung nhan, diện mạo chân dung, chân tướng chính mình. Đó là lời chân thành với những ai không có lòng tự trọng và cũng là  câu trau mình trong chu kì NHỨT NHỰT TAM TĨNH NGÔ THÂN.

                                          Giao Thủy - 26/8/2012